Hiện nay, vấn đề mất quân bình giới tính nghiêm trọng lại trở thành điểm nóng của giới truyền thông. Có học giả cho biết vào năm nay (2015), “nguy cơ nam giới trưởng thành độc thân” ở Trung Quốc đã bùng nổ, đến năm 2020, số “nam thừa” ở Trung Quốc đại lục sẽ tiếp cận con số 2,4 triệu người. Một trong những nguyên nhân gây hệ quả đáng ngại này là do nhiều cặp vợ chồng đã hủy bỏ những bào thai nữ xuất phát từ chính sách dân số của Trung Quốc.

Ngày 31/8 và 1/9 vừa qua, truyền thông đại lục ra bài với tựa đề “Không nên quy tỷ lệ mất quân bình giới tính ở Trung Quốc vào chính sách một con”, đồng loạt lên tiếng bác bỏ quan điểm của một học giả người Mỹ .

Thông tin báo chí cho rằng, theo các học giả có 3 nguyên nhân quan trọng dẫn đến mất quân bình giới tính nam nữ, không thể loại trừ bất kỳ một nguyên nhân nào, đó là: trọng nam khinh nữ, giám định giới tính thai nhi và quản chế sinh đẻ. Cho rằng “trọng nam khinh nữ” là nguyên nhân duy nhất mất cân bằng giới tính thì không thể giải thích được tại sao vào thập niên 60, 70 của thế kỷ trước khi Trung Quốc chưa có chính sách sinh đẻ có kế hoạch thì tỷ lệ giới tính lại tương đối bình thường.

Tỷ lệ giới tính khi sinh ở mức quân bình theo chuẩn quốc tế là 103-107 bé trai/100 bé gái. Theo phân tích thông tin, tỷ lệ giới tính ở Trung Quốc mất quân bình xuất phát từ chính sách sinh đẻ có kế hoạch của Trung Quốc từ năm 1982, khi đó tỷ lệ giới tính sinh ra là 108,47/100, sau đó không ngừng tăng lên. Từ năm 1994 đến nay, tỷ lệ giới tính khi sinh lần lượt là 115/100 trở lên, năm 2004 chênh lệch ở mức đỉnh cao là 121,2/100, trong đó tại một số tỉnh thành lệch khỏi quỹ đạo bình thường ở mức nghiêm trọng, duy trì trong thời gian dài với tỷ lệ 130/100.

Năm 2000, chính quyền Cộng sản Trung Quốc thực hiện điều tra dân số lần thứ 5, khi đó tỷ lệ giới tính khi sinh là 119,2/100, và họ bắt đầu ý thức được sự nghiêm trọng của mất quân bình giới tính. Để kiểm soát thực trạng này, họ bắt đầu thực thi hàng loạt chính sách: cấm giám định giới tính thai nhi và hủy thai do nguyên nhân giới tính; xây dựng phong trào “thương yêu bé gái”, tuyên truyền nam nữ bình đẳng; thậm chí còn nghiêm khắc xét xử những hành vi giám định giới tính thai nhi và việc phá thai do phân biệt giới tính.

Cho đến năm nay (2015), đã là năm thứ 14 Trung Quốc thực thi chính sách quản lý mất quân bình giới tính, theo số liệu từ Cục Thống kê Trung Quốc, vào năm 2014 tỷ lệ giới tính khi sinh là 115,88/100, vẫn vượt xa so với mức hợp lý theo chuẩn quốc tế.

Hậu quả nghiêm trọng  

Phó chủ nhiệm Trung tâm điều tra thống kê của tỉnh Phúc Kiến là Diêu Mỹ Hùng có bài viết chỉ rõ, vào năm 2010, trẻ nam từ 0 – 19 tuổi là 172 triệu người, so với trẻ nữ cùng giai đoạn tuổi nhiều hơn 22,1 triệu người, trong đó nhân khẩu ở độ tuổi 10 – 19 thì nam nhiều hơn nữ là 9,5 triệu người, tỷ lệ nam nữ là 111,5/100. Theo đà này, đến năm 2020 khi bước vào độ tuổi hôn nhân từ 20 – 29 thì nam sẽ nhiều hơn nữ gần 9,5 triệu người; trẻ nam ở độ tuổi từ 0 – 9 tuổi sẽ nhiều hơn nữ là 12,6 triệu, tỷ lệ giữa nam và nữ là 118,9/100.

Diêu Mỹ Hùng phân tích và nhận định, sau năm 2020, số lượng nam giới thanh niên không tìm được vợ sẽ tăng vọt, độ tuổi càng thấp thì tình hình càng nghiêm trọng, xã hội Trung Quốc sẽ trở thành một xã hội đặc biệt với vô số nam giới phải sống độc thân.

Nghiên cứu viên nhân khẩu học ở Đại học Wisconsin là Dị Phú Hiền dự đoán vấn đề còn nghiêm trọng hơn: nếu lấy độ tuổi lần đầu kết hôn của nữ là 22 – 26 tuổi, nam là 24 – 28 tuổi, thì từ năm 2014 dân số nam ở độ tuổi 22 – 24 nhanh chóng vượt qua số nữ ở độ tuổi 22 – 26, tỷ lệ đến năm 2018 sẽ qua 125%; từ đó có thể suy đoán năm 2015 “nguy cơ đàn ông độc thân” đã bùng nổ.

Đến năm 2020, số “nam thừa” gần 2,4 triệu người, đại bộ phận họ sẽ thành “đàn ông độc thân”.
Đến năm 2020, số “nam thừa” gần 2,4 triệu người, đại bộ phận họ sẽ thành “đàn ông độc thân”.

Diêu Mỹ Hùng chỉ ra, tỷ lệ quá chênh lệch sẽ dẫn đến “hôn nhân gượng ép”, đàn ông nhiều tuổi sẽ chọn bạn đời là nữ ít tuổi, rồi sẽ đến đàn ông thành thị về quê tìm vợ, đàn ông ở những khu giàu có sẽ tìm nữ ở khu vực kém phát triển, cuối cùng “nam thừa” đọng lại ở giai cấp nghèo khó. Đến năm 2020, quy mô “nam thừa” là gần 2,4 triệu người, đại bộ phận họ sẽ là “đàn ông độc thân”.

Các học giả cho rằng, nhu cầu sinh lý và tâm lý của một người bình thường nếu không được thỏa mãn sẽ dẫn đến khó khăn cho vấn đề quản trị xã hội, xu thế người có tâm lý phản kháng xã hội tăng cao, có thể dẫn đến dễ gây mâu thuẫn với những xã hội khác và tạo bất ổn xã hội.

Chính sách sinh đẻ kế hoạch làm giảm số lượng bào thai nữ

Đa số học giả khi được phỏng vấn cho rằng, chỉ đơn thuần quan niệm “trọng nam khinh nữ” không dẫn đến mất quân bình giới tính, mà chính việc hạn chế cơ hội sinh đẻ mới khiến mọi người dùng thủ đoạn giữ nam bỏ nữ.

Học giả về nhân khẩu Hà Á Phúc qua phân tích số liệu điều tra nhân khẩu năm 2000 đã chỉ ra, việc thực hiện chính sách “một con rưỡi” ở nông thôn (lần đầu sinh bé gái thì được phép sinh lần 2) khiến tỷ lệ giới tính mất quân bình nghiêm trọng. Tỷ lệ chênh lệch giới tính trong mang thai lần đầu là 107,1/100, về cơ bản còn bình thường, nhưng đến mang thai lần 2 thì tăng vọt lên là 151,9/100.

Ông Hà Á Phúc phân tích, do lần đầu là nữ thì được sinh tiếp, vì thế mọi người không quan tâm nhiều đến giới tính trong lần mang thai đầu; sau lần mang thai đầu là nữ, lần thứ hai trở thành cơ hội cuối cùng của họ, vì thế mọi người tìm mọi cách để sinh cho được bé trai, họ sẽ áp dụng cách giám định giới tính thai nhi, chọn nam bỏ nữ.

Để quản lý việc mất cân bằng giới tính, Trung Quốc đã thực thi nhiều biện pháp: cấm giám định giới tính thai nhi và chọn giới tính để hủy bỏ thai nhi.
Để quản lý việc mất cân bằng giới tính, Trung Quốc đã thực thi nhiều biện pháp: cấm giám định giới tính thai nhi và chọn giới tính để hủy bỏ thai nhi.(Ảnh internet)

Giới học giả phân tích, nếu không có chính sách hạn chế sinh đẻ thì cho dù có tồn tại quan niệm truyền thống trọng nam khinh nữ, nhưng mọi người vẫn có thể thực hiện nguyện vọng bằng cách sinh nhiều; nếu không hạn chế cơ hội sinh đẻ, “sinh được bé trai thì ngừng”, từ góc độ phân tích thống kê thì tỷ lệ giới tính vẫn quân bình.

Giới nhân khẩu học lấy tỷ lệ chết của hài nhi nữ vượt mức để nhận định mức độ can dự của mọi người đối với sinh đẻ, thông thường tỷ lệ tử vong của thai nam cao hơn thai nữ là 20%. Nếu không có sự can dự của các bậc cha mẹ lựa chọn giới tính thì tỷ lệ sinh nữ luôn cao hơn nam. Ví thế nếu hài nhi tại một khu vực nào đó tỷ lệ tử vong tuyệt đối giảm xuống, nhưng tỷ lệ hài nhi nữ bị chết cao hơn nam, điều này cho thấy người dân khu vực đó chắc chắn đã giết chết thai nữ, hoặc vì kỳ thị phân biệt mà có chọn lựa “tiêu cực” với thai nữ về chế độ dinh dưỡng cũng như chăm sóc y tế.

Qua thống kê cho thấy, tỷ lệ tử vong của thai nữ ở Trung Quốc từ sau năm 1950 liên tục giảm từ 14% xuống 2%. Nhưng kể từ sau khi có chính sách kế hoạch hóa sinh đẻ, tỷ lệ tử vong thai nữ không ngừng tăng lên, sau 1970 là 10%, đến 1995 lên đến 60%; qua đối chiếu cho thấy những con số tăng ở mức nhảy vọt. Điều này cho thấy rõ ràng có hiện tượng “giết thai nữ”, đây là nguyên nhân và bằng chứng thuyết phục của tình trạng mất quân bình giới tính.

Theo NTDTV

Tinh Vệ biên dịch

Xem thêm: