Lúa chết vì khát nước ngọt, hàng nghìn tấn hàu chết vì mặn, nhưng hễ thả tôm thì bài toán “tranh chấp” mặn-ngọt lại tái lặp lại hàng năm. Điều này khiến nhiều người trở nên bối rối khi cả đối với nước ngọt và nước mặn, con người dường như đều đã ứng xử không đúng.

Khát ngọt

Chưa khi nào hạn, xâm nhập mặn lại diễn ra sớm, trên diện rộng và kéo dài như mùa khô năm nay. 8/13 tỉnh và thành phố của ĐBSCL đã công bố thiên tai hạn, mặn (7 tỉnh cấp độ 1, 1 tỉnh cấp độ 2). Tính đến đầu tháng 3/2016, hơn 160.000 ha lúa đông xuân bị thiệt hại. Tại Bến Tre, khả năng 100% diện tích lúa đông xuân sẽ bị thiệt hại do lúa bị nghẹn đòng, hạt lép, cây chết khô.

Cũng tại Bến Tre, ở huyện ven biển Bình Đại, nông dân chết lặng khi hàu nuôi trên sông chết 80-90%. Ông Huỳnh Văn Cung – Quyền Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết tổng khối lượng thiệt hại khoảng 2.600 tấn, tổng giá trị ước hơn 45 tỷ đồng. Người dân dù trắng tay vẫn phải chi tiền vớt số hàu chết lên để nước không bị ô nhiễm cho vụ thả tới, nếu còn có thể.

Ban đầu xác định nguyên nhân hàu chết là do thời tiết nắng nóng kéo dài, kết hợp nồng độ mặn trong nước quá cao (từ 34 - 37‰), theo tờ báo của tỉnh Bến Tre. (Ảnh chụp màn hình/vnexpress.net)
Ban đầu xác định nguyên nhân hàu chết là do thời tiết nắng nóng kéo dài, kết hợp nồng độ mặn trong nước quá cao (từ 34 – 37‰), theo tờ báo của tỉnh Bến Tre. (Ảnh chụp màn hình/vnexpress.net)

Tính đến hết tháng 1/2016, nồng độ xâm nhập mặn đã lên đến 4‰ và xâm nhập sâu vào đất liền đến 93 km, Cổng thông tin điện tử Chính phủ ngày 5/2 cho hay. Năm ngoái, tới giữa mùa khô (tháng 3/2015), mức độ xâm nhập mặn vào sâu khu vực nội đồng là từ 40 – 60 km, với tỷ lệ nước mặn xâm nhập ở mức từ 1-3‰.

Dự báo nếu mặn xâm nhập kéo dài đến tháng 6/2016, sẽ có 500.000 ha lúa vụ hè thu bị ảnh hưởng lớn, chưa kể số tổn thất về cây ăn trái, thủy sản, nguy cơ cháy rừng. Trước mắt, mất mùa lúa sẽ khiến 1 triệu hộ (khoảng 5 triệu người) gặp khó, thiếu nợ, trắng tay, chưa kể khoảng 150.000 hộ thiếu nước sinh hoạt, theo VOV.

Ngăn mặn, cũng khát mặn?

Trong khi tình trạng khát ngọt diễn ra trầm trọng, mô hình luân canh lúa – tôm được phổ biến từ nhiều năm trước tưởng chừng sẽ trở thành giải pháp thì vấn đề tranh chấp “mặn – ngọt” thậm chí còn đáng ngại hơn. Nó cho thấy sự quẩn quanh, thiếu định hướng chuyên nghiệp từ cấp quản lý.

Biểu hiện là tại một số tỉnh, nhiều công trình thủy lợi dù là dẫn ngọt hay dẫn mặn đều trở nên lạc hậu hoặc bị bỏ hoang, không sử dụng dù đã hoàn thành.

Báo SGGP tháng 2/2016 cho biết, tại Kiên Giang, sau 10 năm xây dựng các cống dẫn mặn, xả lũ dọc theo hệ thống cống thoát lũ ra biển Tây, phục vụ cho gần 50.000 ha quy hoạch nuôi tôm ở vùng này, thì đến nay, 90% diện tích trong tổng số gần 50.000 ha trên đã chuyển sang trồng lúa. Điều đáng nói là các cống thủy lợi vẫn tiếp tục được triển khai xây dựng với 14 cống thủy lợi đã hoàn thành và 3 cống đang xây dựng, mỗi cống có chi phí thấp nhất 5 tỷ đồng, cao nhất 15 tỷ đồng. Quy hoạch không còn phù hợp với thực tế đang khiến hàng trăm tỷ đồng lãng phí.

Tại Cà Mau, công trình dẫn ngọt, ngăn mặn Âu thuyền Tắc Thủ với chiều dài 206m, tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình) và xã Khánh An (huyện U Minh, Cà Mau), có tổng vốn gần 80 tỷ đồng. Nhưng từ ngày hoàn thành đến nay, công trình vẫn chưa một lần được vận hành. Tình trạng được lý giải là do Chính phủ chủ trương cho chuyển qua nuôi tôm nên nhiều công trình thủy lợi dẫn ngọt bị bỏ dở. Công trình trên do Bộ Giao thông vận tải làm chủ đầu tư, nhằm mục đích bảo vệ cho hơn 200.000 ha đất thuộc vùng ngọt hóa bắc vùng bán đảo Cà Mau, theo Báo Cần Thơ tháng 8/2013.

Âu thuyền Tắc Thủ (Cà Mau). (Ảnh: geolocation.ws)
Âu thuyền Tắc Thủ (Cà Mau) được đầu tư 80 tỷ đồng nhưng bị bỏ không. (Ảnh: geolocation.ws)

Tư duy thời vụ trồng lúa thì bỏ dẫn mặn, nuôi tôm thì bỏ dẫn ngọt khiến hàng tỷ đồng bị bỏ hoang theo các công trình thủy lợi. Khi tiến hành mô hình luân canh tôm – lúa (một vụ tôm, một vụ lúa), thì những bất cập của nhiều công trình thủy lợi bấy lâu nay được xây dựng ở ĐBSCL mới bộc lộ.

Điển hình như ở Sóc Trăng, trong khi ở một số khu vực chỉ có đóng các cửa cống thì mới lấy được nước ngọt để dùng, thì kề sát bên, Bạc Liêu buộc phải mở cống để có nước mặn nuôi tôm. Tình trạng này cũng xảy ra ngay trong nội bộ tỉnh. Vào mùa khô năm nay, tập trung nhất từ tháng 2 tới nay, Bạc Liêu rơi vào tình cảnh vừa thiếu nước ngọt vừa thiếu nước mặn.

Nuôi, trồng theo vùng quy hoạch mang tính cảm tính, tự phát khiến tại Cà Mau, hiện nhiều hộ trồng lúa xót của khi hàng hec-ta lúa bị mất trắng đã tự ý bửa đập đưa nước mặn vào nuôi tôm khiến nhà thì trồng lúa, nhà thì nuôi tôm, nước mặn nhiễm sang. Cây lúa càng chết. Cá nước ngọt cũng chết.

Theo Báo Cà Mau, trong khi ông Phạm Thành Công, ấp Tân Dân, lo lắng: “6.000 m2 ao cá chình với khoảng 800 con cá không biết sống nổi hay không? Nước mặn đang thấm vào ao, hiện mực nước trong các ao lên gần 2 gang tay nên có nguy cơ mất trắng cả trăm triệu đồng”, thì nhiều hộ khác đang trông mong sẽ “trúng” như những hộ nuôi tôm trước đó.

Tôi lấy nước mặn vào nuôi tôm, sau đó nhiều hộ khác nữa. Vụ rồi nuôi tôm quảng canh thu hoạch được trên 14 triệu đồng/1,4 ha.  Nuôi tôm hiệu quả hơn trồng lúa nhiều, ở đây, nhiều người chuyển sang nuôi tôm rồi, đều hiệu quả cả. Nói chung là nuôi tôm có ăn hơn làm lúa”, Ông Phan Văn Trung, Ấp 3, xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, cho hay.

Nhiều hộ dân ở vùng U Minh Thượng (Kiên Giang) đã phải bỏ ruộng vì đất nhiễm mặn, tháng 3/2016. (Ảnh: danviet.vn)
Nhiều hộ dân ở vùng U Minh Thượng (Kiên Giang) đã phải bỏ ruộng vì đất nhiễm mặn, tháng 3/2016. (Ảnh: danviet.vn)

Anh Nguyễn Ngọc Tuấn, người cùng xóm với ông Trung, thì cho hay 10 công ruộng của gia đình đã chuyển sang nuôi tôm. Vụ đầu chưa thu hoạch nhưng thấy tôm phát triển rất nhanh. “Ở những nơi khác cũng cấm không cho nuôi tôm nhưng người dân vẫn lấy nước vào nuôi tôm rồi trúng ầm ầm đó, có bị gì đâu”, anh nói về việc “vượt” quy hoạch, sống chung với mặn, nuôi tôm tự phát của gia đình.

Tóm lại, với đường bờ biển dài trên 700 km với khoảng 360.000km² khu vực đặc quyền kinh tế; lượng nước ngọt bình quân của sông Mê Kông chảy qua là hơn 460 tỷ m3, vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa hàng năm; gần một nửa diện tích (tổng diện tích đất liền 39.712 km2, chiếm 12,1% diện tích cả nước) bị biến thành nước mặt (ngập lũ) từ 3-4 tháng/năm mang theo dòng chảy hải sản từ Biển Hồ về… thì vùng đất này vốn đã là nơi hiện diện của cả các loại nước mặn, ngọt và lợ.

Cứ làm thủy lợi là nhất định phải ngăn mặn, trữ ngọt?

Dù mỗi năm vùng đất này đón về cả hai loại nước mặn và ngọt nhưng những dự án thủy lợi nghìn tỷ đồng có tầm nhìn đến 2020 vẫn tập trung vào mục tiêu ngọt hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long, giữ ngọt, ngăn mặn. Thực tế trong những ngày vừa qua, hạn, mặn hiện đang diễn ra ngày càng trầm trọng cho thấy, dù đã, đang và sẽ tốn hàng chục ngàn tỷ đồng để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau thì kết quả là nước ngọt vẫn không đủ cho ngọt hóa.

Được biết từ 2016 đến 2020, tỉnh Hậu Giang quyết định đầu tư trên 1.800 tỷ đồng để xây dựng hệ thống thủy lợi, phục vụ tưới tiêu và chống xâm nhập mặn cho sản xuất nông nghiệp; phòng chống biến đổi khí hậu, góp phần phát triển nông thôn, cải thiện môi trường sống, nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Các hạng mục bao gồm công trình bờ kè Xà No, đê bao ngăn mặn huyện Long Mỹ – thành phố Vị Thanh, đê bao vùng nguyên liệu mía, dự án WB6, dự án hệ thống cống Nam Xà No, nạo vét kênh, kè chống sạt lở…

Từ 2014 đến năm 2020, Cần Thơ sẽ đầu tư 8.000 tỷ đồng xây dựng hệ thống thủy lợi để ứng phó với biến đổi khí hậu, chủ yếu là chống ngập úng. Các hạng mục bao gồm như 24 cống tiêu thoát nước, 2 âu thuyền tại sông Trà Nóc, Bình Thủy, nạo vét 109km kênh trục, kênh cấp I; nâng cấp 133,5km đê bao cấp I; xây dựng mới 6 trạm bơm tiêu với 15 tổ máy (loại 10.800 m3/giờ)… Đối với thủy sản nuôi trên ruộng thì đơn giản là áp dụng biện pháp tiêu nước tự chảy kết hợp bơm (!).

Cùng thời gian, UBND tỉnh Long An cũng phê duyệt quy hoạch xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất từ 2014 đến năm 2020 với tổng kinh phí đầu tư hơn 13.000 tỷ đồng, trong đó vốn trái phiếu Chính phủ hơn 4.000 tỷ đồng; vốn vay ODA gần 3.000 tỷ đồng; vốn địa phương gần 5.000 tỷ đồng; vốn huy động từ người dân hơn 521 tỷ đồng. Mục đích xây dựng là để kiểm soát lũ, xâm nhập mặn, trữ ngọt, rửa phèn cho hơn 298.000ha đất nông nghiệp.

Ý kiến chuyên gia: Hãy thay đổi tư duy

Ngày 8/3, GS Nguyễn Đăng Hưng (ĐH Liège – Bỉ) đã đăng tải nội dung gửi qua email của GS Võ Tòng Xuân trên blog cá nhân, thể hiện một góc nhìn khác của GS về tư duy nông nghiệp nói chung và cách ứng xử với thiên nhiên tại ĐBSCL nói riêng.

Ông viết: “Xin đừng quá bi quan trước hiện tượng lúa bị chết mặn như báo chí đã loan tin. Họ không loan tin về các nông dân nhờ có nước mặn mà nuôi tôm rất thành công (giá trị gấp 3-4 lần lúa), và họ không hề lên tiếng giùm những nông dân nuôi tôm bị chết vì thiếu nước mặn do địa phương ngăn mặn để cứu lúa, nhưng lúa không đủ nước ngọt nên lúa cũng thiệt hại theo tôm.

Đây là lỗi của Bộ Nông nghiệp và chánh quyền các tỉnh có bờ biển tiếp giáp, chỉ biết trồng lúa-lúa-lúa bất chấp thiên nhiên không cho phép, họ tốn hàng chục ngàn tỉ đồng để làm ngọt hóa bán đảo Cà Mau, nhưng kết quả là nước ngọt vẫn không đủ cho ngọt hóa“.

Theo GS Võ Tòng Xuân, đã đến lúc cần thay đổi tư duy về kinh tế nông nghiệp cho miền Tây.

Chúng ta đều thấy rằng thời kỳ cả nước ai ai cũng lo cho an ninh lương thực đã qua rồi vì nay ta sản xuất dư thừa để xuất khẩu 7-8 triệu tấn/năm với giá bèo như vậy. Nông dân trồng lúa của ta đã 40 năm rồi mà vẫn là những người nghèo, họ bị hô hào phải trồng lúa thật nhiều (để cho người ta được thăng quan tiến chức).

Đã đến lúc cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương và các phương tiện truyền thông phải đổi mới tư duy làm kinh tế, chọn lựa hướng sản xuất và tìm đầu ra cho các hướng đó thế nào để có giá trị cao hơn mà không tiêu xài quá nhiều nước ngọt – tài nguyên thiên nhiên không tái tạo – ông nêu vấn đề.

Bàn về giải pháp, GS cho rằng: “Tư duy về nước mặn là kẻ thù, phải ngăn mặn, không còn hợp thời này nữa. Phải coi nước mặn là bạn, giúp nông dân ven biển làm giàu với tôm, cua… một cách bền vững hài hòa thiên nhiên. Những vùng theo hệ thống lúa-tôm của Sóc Trăng hiện nay được giàu có nhờ trồng lúa rất thành công trong mùa mưa và sau khi dứt mưa thì cũng vừa gặt lúa xong, liền cho nước mặn vào nuôi tôm. Đến mùa mưa tới, nông dân trở lại trồng lúa…”

Thu hoạch tôm càng xanh ở Cà Mau. (Ảnh: nammientrung.com), ngan man hay song voi man
Thu hoạch tôm càng xanh ở Cà Mau. (Ảnh: nammientrung.com)

TS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam từng phát biểu thẳng thắn: “Chúng ta đang vướng và bị gò bó quá nhiều vào tư duy an ninh lương thực…”, theo báo Lao Động tháng 3/2016.

Theo RFA tháng 12/2010, TS Dương Văn Ni (ĐH Cần Thơ) cho biết có thể thấy sự rủi ro của ĐBSCL trên ba góc độ: 1/Quy hoạch bất cập về nguồn nước giữa các tỉnh thành, 2/Các nước hai bên dòng Mê Kông tận dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp và 3/Thủy điện bậc thang được các nước xây dựng trên dòng Mê Kông.

Trước sự phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông, TS Ni lo ngại khi tính toán: “Để làm được 1kg gạo, chúng ta xài gần 4.500 lít nước (4,5m3). ĐBSCL mỗi năm làm ra 24 triệu tấn lúa thì cần một lượng nước khổng lồ. Việc xuất hơn 7 triệu tấn gạo thì đồng nghĩa cần lượng nước bao nhiêu“, báo SGGP tháng 8/2013 cho hay.

Trên báo Lao động tháng 6/2015, TS Ni cho biết mấy chục năm trước, chỉ có độ khoảng vài ngàn người sống ở khu vực ven biển, họ luôn biết cách để thích ứng môi trường sống nơi đó, và mặn chưa bao giờ là một “vấn đề xã hội”; thậm chí nó còn mang đến những yếu tố tích cực. Còn giờ đây, chúng ta đã “hướng ra biển” quá nhiều, số lượng người tăng đến hàng triệu, kèm theo đó là cây trồng, hệ vật nuôi, nhà cửa… cũng được mang theo. Do đó, khi hạn – mặn xảy ra (dù không lớn) những nó vẫn trở thành một “vấn đề xã hội” – do số lượng người (và cả vật chất) bị ảnh hưởng tăng vọt. Theo đó phải xét đến cả yếu tố “tác nhân từ xã hội”.

Ông cho hay: “Mọi giải pháp phải bắt đầu từ nguyên nhân. Theo số liệu chính bản thân tôi thu thập, nghiên cứu trong nhiều năm qua, thì mức độ hạn – mặn giống như năm nay cứ khoảng 10 năm sẽ xảy ra một lần. Quan trọng hơn là nó đã xuất hiện từ khi chưa có cụm từ “biến đổi khí hậu“.

Phan A tổng hợp

Xem thêm: