Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam, ông Eric Sidgwick cho rằng để duy trì tốc độ phát triển trong những năm tới, đặc biệt khi các nguồn vốn ưu đãi đã cạn dần, thì Việt Nam cần nỗ lực để thúc đẩy phát triển thị trường vốn nội địa nhanh hơn, để thu hút các nguồn lực trong nước, theo tin từ Thời báo Ngân hàng.  

Biến đổi khí hậu và thách thức đầu tư cơ sở hạ tầng

Thời gian gần đây, Việt Nam đã đầu tư khoảng 9-10% GDP/năm vào cơ sở hạ tầng gồm: giao thông, năng lượng, truyền thông, nước sạch, nhưng nền kinh tế phát triển và hội nhập mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới đòi hỏi đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng lớn, nhưng lại trong bối cảnh đã thoát nghèo nên các nguồn lực tài chính ưu đãi của quốc tế đang dần ít đi.

Đô thị hóa và biến đổi khí hậu làm nhu cầu cơ bản về cơ sở hạ tầng trở nên tốn nhiều chi phí. Dự kiến trong tiến trình đô thị hóa, mỗi năm có khoảng nửa triệu người dân di cư tới các đô thị lớn của Việt Nam, dẫn tới tăng nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang phải gánh chịu các hậu quả của biến đổi khí hậu ngày càng lớn, những kiểu thời tiết khắc nghiệt, chỗ thì khô hạn, chỗ thì mưa lớn, với lượng mưa lớn hơn bình thường rất nhiều, vì vậy cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng có khả năng ứng phó tốt hơn với biến đổi của khí hậu.

Theo tính toán, nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giai đoạn 2016 – 2020 vào khoảng 10-12% GDP mỗi năm. Nhu cầu này vượt xa khả năng ngân sách nhà nước, nhất là trong bối cảnh thâm hụt ngân sách ở mức lớn và nợ công đang có chiều hướng tăng nhanh và cao, áp lực trả nợ lớn.

Thực tế những năm qua, nguồn vốn ODA đã từng là một nguồn tài trợ quan trọng cho phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng khả năng nguồn vốn vay ODA sẽ giảm dần và tiến đến chấm dứt từ sau năm 2017, tức là mất đi một nguồn lực tài chính quan trọng vẫn thường được sử dụng đầu tư cho các cơ sở hạ tầng trọng yếu.

Trong khi đó, các nguồn vốn khác trong nước không đủ bù đắp do thị trường vốn của Việt Nam còn quá nhỏ và chưa phát triển. Còn với hình thức hợp tác đối tác công – tư (PPP), mặc dù đã có những cam kết trong việc phát triển song cho đến nay, Việt Nam vẫn thiếu một chương trình PPP đáng tin cậy.

Ông Eric Sidgwick cho rằng: “Những thách thức đó đòi hỏi cơ chế và môi trường tài chính cần thay đổi để đáp ứng được nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng. Chính phủ nên có những hành động ngay lập tức để đối phó với những thách thức này.

Thị trường vốn Việt Nam còn quá nhỏ

Ông Eric Sidgwick, cho rằng cần nỗ lực phối hợp để thúc đẩy phát triển thị trường vốn nhanh hơn. Về quy mô, thị trường trái phiếu nội địa của Việt Nam chỉ tương đương so với Indonesia, kém xa Philippines, Thái Lan, Singapore và Malaysia.

Các quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia đã chứng minh rằng, những nỗ lực cải thiện thị trường vốn trong nước có thể giúp hỗ trợ cho sự phát triển công nghiệp và ổn định của hệ thống tài chính. Đồng thời cũng giúp cho thương mại trong nước có tính cạnh tranh và phát triển mạnh hơn.

Giả sử một công ty xây dựng giao thông của Việt Nam, nếu không được tiếp cận với nguồn vốn dài hạn, thì họ có thể bị mất hợp đồng vào tay các công ty nước ngoài. Trong khi nếu công ty ấy có thể tham gia vào thị trường trái phiếu trong nước thì khả năng cạnh tranh của họ tốt hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn và lợi nhuận sẽ về tay các nhà đầu tư (NĐT) trong nước.

Thị trường trái phiếu trong nước, nhất là trái phiếu doanh nghiệp (DN) sẽ không thể tự phát triển nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước, ông Sidgwick nói: “Cần thúc đẩy việc hỗ trợ cải thiện các quy định tài chính trong nước, đồng thời làm việc với các DN và NĐT để đảm bảo lợi ích của việc phát hành trái phiếu đó được hiểu đúng và rõ ràng.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục đưa ra các tiêu chuẩn tài chính, kế toán và kinh doanh minh bạch, như đưa vào áp dụng đầy đủ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế để tạo lập niềm tin cho các NĐT và thu hút họ đầu tư dài hạn hơn.

Cơ quan đại diện thường trú ADB tại Việt Nam đưa ra Báo cáo về tài trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho Việt Nam giai đoạn 2016-2020 (VRM) cho rằng, để thị trường trái phiếu nội tệ phát triển thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được một khuôn khổ pháp lý hiện đại, minh bạch và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về quy định chứng khoán, giám sát thị trường vốn kết hợp với hạ tầng thị trường tài chính cho việc định giá, kinh doanh trái phiếu và một hệ thống thanh toán bù trừ.

Đối với hình thức hợp tác đối tác công – tư PPP, báo cáo của VRM đánh giá, thách thức lớn nhất để tăng đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức này là đưa ra được những dự án thực sự khả thi ra thị trường. Điều này phản ánh những trở ngại trong giai đoạn chuẩn bị dự án như thiếu kiến thức chuyên môn và năng lực của chính phủ; không đủ khuôn khổ pháp lý cho PPP; không chắc chắn về các ưu đãi; quy trình cấp phép phức tạp và thường không rõ ràng…

Do đó, cần có sự tập trung chọn lọc các dự án đã thực hiện và có tác động tốt để chứng minh giá trị của mô hình hợp tác này. Khi chính phủ bắt tay vào thực hiện một dự án PPP đáng tin cậy, cần nâng cao sự hiểu biết của khu vực tư nhân về chia sẻ rủi ro có thể có giữa khu vực công và khu vực tư. Với mức giá định trước thì quan trọng nhất là phải xác định các mức chênh lệch hợp lý hoặc sử dụng các bảo đảm của khu vực công thì mới đưa ra được dự án PPP khả thi.

Những đề nghị cần phát triển thị trường tài chính này là rất đáng trân trọng, bởi vì đã được đúc rút từ kinh nghiệm thành công của nhiều nước trong khu vực như Hàn Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Singapore và Malaysia. Muốn phát triển kinh tế hiện nay thì cần phải phát triển thị trường vốn là tất yêu, nhưng để thực hiện được thì cần phải thực hiện đồng bộ rất nhiều vấn đề, trong đó có việc đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thay đổi chiến lược phát triển kinh tế, hướng đến nền kinh tế thị trường hoàn hảo.

Thành Long

Xem thêm: