Với một số đặc điểm như có yếu tố tham gia rất lớn của Nhà nước vào lĩnh vực ngân hàng dưới hình thức liên kết sở hữu trực tiếp và gián tiếp, mức độ sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau và giữa ngân hàng với doanh nghiệp, kết quả hoạt động của các ngân hàng suy giảm và những vấn đề về chất lượng danh mục tài sản có, để giúp hệ thống ngân hàng khắc phục các vấn đề đáng lo ngại này thì cần phải có và đẩy nhanh những biện pháp cải cách.

Theo báo cáo “Điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới được công bố vào tháng 12/2014, khu vực ngân hàng hoàn toàn chi phối hệ thống tài chính Việt Nam với tổng tài sản ước tính là 183% GDP, chiếm 92% tài sản của tất cả các định chế tài chính tại Việt Nam. Quy mô này được xem là lớn so với chuẩn quốc tế xét trên khía cạnh tiền gửi và tín dụng.

Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều biến động. Tăng trưởng tín dụng có diễn biến thất thường do tác động từ các yếu tố bên ngoài như sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 dẫn đến có luồng vốn lớn vào Việt Nam, tiếp theo là khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào năm 2008, đồng thời do các chính sách thắt chặt và nới lỏng tiền tệ của Nhà nước dẫn đến việc tăng trưởng hay suy giảm tín dụng ở các ngân hàng.

Gần đây, có vẻ như tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định từ năm 2012 nhưng vẫn cần có những cải cách mạnh mẽ để xử lý các điếm yếu của hệ thống ngân hàng. Dưới đây là một số điểm yếu lớn được Ngân hàng Thế giới nêu lên trong báo cáo này.

1. Mức độ tham gia lớn của Nhà nước vào lĩnh vực ngân hàng dưới hình thức liên kết sở hữu trực tiếp và gián tiếp:

Vào cuối năm 2011, ước tính 40% tài sản và 48% tiền gửi của khách hàng của toàn hệ thống ngân hàng thuộc về 5 ngân hàng thương mại nhà nước (không kể hai ngân hàng chính sách). Nếu tính cả phần vốn góp của nhà nước, của các doanh nghiệp nhà nước, của các ngân hàng thương mại nhà nước vào một số ngân hàng cổ phần thì con số thống kê về việc tham gia của Nhà nước vào hệ thống ngân hàng này còn lớn hơn nhiều.

Quan trọng hơn, Nhà nước có vai trò mâu thuẫn trong hệ thống ngân hàng, làm giảm động lực của các ngân hàng trong việc chịu trách nhiệm giải trình toàn bộ đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Khuôn khổ pháp lý và giám sát yếu kém cũng như độ minh bạch thấp đã dẫn đến tình trạng hội đồng quản trị hay ban điều hành ít chịu trách nhiệm trong việc giải trình. Các ngân hàng thương mại nhà nước cũng phải chịu thiệt hại từ việc thiếu các cấu trúc quản trị rõ ràng và một số trách nhiệm đáng lẽ là của Hội đồng Quản trị thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại can thiệp thực hiện.

2. Hệ thống ngân hàng có mức độ sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng với doanh nghiệp

Mức độ sở hữu này bao gồm sở hữu giữa các ngân hàng cổ phần với nhau, giữa ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng cổ phần, giữa các tập đoàn kinh tế và các ngân hàng cổ phần với cấu trúc phức tạp. Sự phức tạp này gây ra mối quan ngại sâu sắc về việc trục lợi giữa các bên có liên quan nhằm tài trợ cho những dự án thiếu minh bạch, có lợi cho một số cá nhân.

Cơ cấu này dẫn đến tình trạng phóng đại vốn góp do hiện tượng cho vay mua cổ phần lẫn nhau, dẫn đến việc lách các quy định an toàn của NHNN. Mảng quản trị rủi ro của các ngân hàng còn yếu. Luật và các quy định liên quan hiện hành tập trung chủ yếu vào quy định chi tiết cơ chế của từng bộ phận quản lý hành chính chứ không phải gắn trách nhiệm để đảm bảo lợi ích của công chúng và các bên có liên quan.

3. Kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng suy giảm trong thời gian gần đây

Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản có (ROA) của tất cả các ngân hàng giảm từ 1,8% năm 2007 xuống 0,5% năm 2012. Con số này được tính dựa trên báo cáo của các ngân hàng, tuy nhiên, độ tin cậy về chất lượng của các báo cáo này vẫn còn là một câu hỏi. Báo cáo chất lượng thấp có thể bắt nguồn từ một số quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, về định giá tài sản thế chấp, định giá các tài sản phi tín dụng trên bảng cân đối tài sản và việc hạch toán thiếu các khoản đầu tư (do liên quan đến mục đích làm giảm đi các con số về tỷ lệ nợ xấu) cũng như tình trạng thiếu minh bạch khi báo cáo về các hạng mục khác.

4. Chất lượng danh mục cho vay và khả năng đảm bảo về vốn của một số ngân hàng có những dấu hiệu đáng lo ngại

Hiện nay, đa số các ngân hàng đều có tình trạng cho vay tín dụng tập trung lớn vào một số doanh nghiệp, cá nhân. Điều này dẫn đến rủi ro tập trung cao. Thực hiện kiểm định sức chịu đựng với các số liệu của các ngân hàng cho thấy mức độ rủi ro tín dụng và rủi ro tập trung rất cao. Trong trường hợp xấu xảy ra vấn đề với một khách hàng nào đó trong danh mục tín dụng tập trung thì các ngân hàng không chỉ đối diện với việc kinh doanh lỗ mà còn dẫn đến tình trạng vốn tự có không đủ bù đắp khoản nợ xấu này.

Biện pháp và đề xuất

Với các nội dung đáng quan ngại như trên, việc đẩy mạnh cải cách hệ thống ngân hàng là điều tất yếu. Trong báo cáo này của Ngân hàng Thế giới, một số biện pháp cần thiết cho việc này cũng đã được đề xuất, cụ thể như:

1. Cần tiến hành kiểm toán tài chính đặc biệt để đo lường chính xác tỷ lệ nợ xấu và thực hiện kiểm toán hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước. Những đợt kiểm toán này sẽ đánh giá chất lượng danh mục cho vay, hồ sơ của các khách hàng vay, các loại tài sản thế chấp và giá trị định giá lại của tài sản thế chấp cũng như các hình thức liên kết giữa các ngân hàng và khách hàng vay. Kết quả kiểm toán sẽ được chính phủ và NHNN sử dụng để xác định nhu cầu cấp vốn bổ sung và xem xét các nguồn cấp vốn khác nhau (ví dụ như từ ngân sách hoặc từ các nhà đầu tư tư nhân).

Các ngân hàng thương mại nhà nước cũng phải được tiến hành kiểm toán đặc biệt về cơ cấu quản trị, về cơ cấu quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, hệ thống công nghệ thông tin, các chính sách điều hành, quy trình quản lý nhân sự và quan trọng nữa là cơ chế xử lý và thu hồi các khoản nợ.

2. Cấp vốn bổ sung cho các ngân hàng còn khả năng hoạt động (xác định dựa trên kết quả kiểm toán đặc biệt ở trên) để đáp ứng quy định về an toàn vốn tổi thiểu và loại bỏ một cách trật tự các ngân hàng yếu kém. Việc cấp vốn bổ sung cho các ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng cổ phần tư nhân sẽ được thực hiện đi kèm một số biện pháp cần thiết bao gồm: thoái vốn tại ngân hàng khác, chuyển vốn cho VAMC hoặc SCIC để sau này thoái vốn. Điều này dẫn tới việc thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước và làm sạch sở hữu chéo giữa các ngân hàng với nhau và giữa ngân hàng với các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn.

3. Cải cách toàn diện khuôn khổ quản lý và giám sát, triển khai các chương trình xây dựng năng lực giám sát và cơ sở hạ tầng thông tin cho các cơ quan giám sát với sự hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài. Chính phủ và NHNN có thể cân nhắc sửa đổi chiến lược xử lý nợ, sửa đổi cấu trúc pháp lý và cách thức hoạt động của VAMC.

4. Khởi xướng chương trình phát triển thị trường vốn và các tổ chức tài chính phi ngân hàng với việc triển khai đẩy đủ lộ trình phát triển thị trường trái phiếu chính phủ. Chương trình phát triển thị trường vốn thực sự quan trọng đối với Việt Nam vì nó góp phần đáp ứng cả mục tiêu tiếp cận và ổn định. Ở thời điểm hiện nay, chính phủ và NHNN cũng nên chuẩn bị hành lang pháp lý quan trọng cho sự ra đời của các công cụ thị trường trái phiếu.

Nói tóm lại, báo cáo “Điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới mới công bố đã đánh giá khá sát với thực trạng hiện nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam, những vấn đề nổi cộm cũng như đưa ra một số khuyến nghị cần thiết cho việc đẩy mạnh cải cách hệ thống ngân hàng để hệ thống này có thể phát triển một cách ổn định và bền vững.

Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế, việc các ngân hàng đi theo từng lộ trình cụ thể, rõ ràng và minh bạch sẽ giúp các thành phần kinh tế có những bước đi vững chắc và ổn định hơn. Tuy nhiên, việc các cơ quan quản lý nhà nước và các ngân hàng có sẵn lòng thực hiện các biện pháp cải cách mà Ngân hàng Thế giới đề xuất hay không thì hiện vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.

Nhật Hạ tổng hợp