Bậc quân vương cũng có lúc sai lầm, cái sai của người trị vì có thể kéo theo những tổn thất kinh hoàng cho chúng dân. Nhưng sự khác nhau giữa minh quân và hôn quân ở chỗ khi nghe lời can gián có tình có lý, ai biết lắng nghe và sám hối, sửa sai, thì đó mới là đấng minh quân thật sự. Biết sai mà sửa cũng chính là vì dân, vì dân thì sẽ được lòng dân, được lòng dân thì sẽ được cả thiên hạ.

Theo sử sách ghi lại, thời nhà Lý – Trần là thời kỳ hưng thịnh vào bậc nhất của lịch sử các triều các đại nước Việt xưa. Nhà Lý bắt đầu khai vận từ vị vua anh minh có xuất thân nơi cửa chùa. Với hơn 2 thế kỷ thực hành Tam giáo đồng nguyên, lấy ba chính giáo Phật – Đạo – Nho làm nền tảng trị quốc, nước Việt đã trở thành quốc gia văn hiến, cường thịnh.

Sang đến thời Trần, Phật giáo tiếp tục là quốc giáo. Ba vị vua đầu tiên của nhà Trần sau khi đem tài trí giúp nước, giữ vừng bờ cõi, đánh đuổi quân Mông Nguyên, đều đã nhẹ nhàng rũ bỏ danh lợi, lặng lẽ xuất gia, thanh thản nương nhờ cửa Phật. Không những thế còn củng cố, xây dựng nền móng tâm linh đậm màu sắc Việt cho dân tộc.

Các nhà sử học đều có thể nhận ra mối liên hệ giữa sự hưng thịnh của hai triều Lý Trần với nền móng tâm linh, đạo đức vững mạnh do có chính tín của những vị lãnh đạo kiệt xuất. Vậy nhưng từ thời hậu Trần tới nhà Lê, nền văn hóa tam giáo đồng nguyên bị loại bỏ, Nho giáo chiếm vị trí thượng phong và Phật giáo bị đẩy ra khỏi hệ tư tưởng của vua quan.

Chùa Trần Quốc ngôi chùa có sự kết hợp giữa uy nghi, cổ kính với sự thanh nhã và còn là trung tâm văn hóa Phật Giáo của Việt Nam thời kỳ Lý – Trần. (Ảnh: evan.vn)

Vua ban lệnh đuổi tăng ni lên rừng, thiền sư vờ dâng ngọc can gián nạn diệt Phật

Năm niên hiệu Vĩnh Trị (1678), vua Lê Hy Tông đã ra sắc lệnh đuổi hết tăng ni cả già cả trẻ lên rừng, ai ngoan cố không đi sẽ bị khép vào trọng tội và đem ra xử trảm, khiến Phật giáo thời kỳ này rơi vào thảm cảnh. Chùa chiền bỏ hoang, các nhà sư phải bỏ lên rừng, nhiều người không chịu được đói rét đã phải hoàn tục.

Thiền sư Tông Diễn thuộc thế hệ thứ hai của phái Tào Động lúc này đang đi hành cước tham vấn các nơi. Nghe tin này rất đau lòng: “Tại sao nhà vua đối với đạo Phật lại cho là vô dụng? Nếu ở núi rừng, dù thuyết pháp đá phải gật đầu, giảng kinh được hoa trời rơi loạn, cũng chẳng có lợi ích gì cho chúng sanh. Nếu không hoằng dương được chánh pháp thì làm sao đáng đền ơn Phật Tổ! Chỉ riêng tốt cho mình thì làm sao độ được hàm linh trong bể khổ, thật uổng công vào cửa Phật, luống trôi qua một đời”.

Thiền sư Tông Diễn đang đi hành cước tham vấn các nơi nghe tin này rất đau lòng. (Ảnh: giacngo.vn)

Sư bèn quyết tâm về kinh thành, mong cảnh tỉnh nhà vua, cứu vãn Phật pháp trong họa diệt vong. Khi nghỉ lại tài chùa Cổ Pháp, suốt đêm ông tọa thiền đến khi nghe tiếng chuông sáng liền lên điện lễ Phật. Khi lễ, nhìn lên thấy tượng đức Điều Ngự, ông liền viết bài thơ dâng lên như sau:

“Tiền Quốc vương hề hậu Quốc vương
Tiền hà kỉnh mộ hậu hà mang
Hữu linh tương nguyện kim phiên xuất
Ư cửu trùng môn nhập bất phương”

Dịch:

Trước là vua sau cũng là vua
Xưa sao kính mộ nay chẳng ưa?
Có linh xin nguyện phen này đến
Cửa khuyết ra vào được tự do.

Hành trình sau đó của thiền sư quả thật như được an bài, dẫn dắt, cuối cùng ông gặp quan Đề lĩnh bắt đem về dinh chất vấn:

– Hiện nay lệnh vua truyền khắp nước, tất cả Tăng Ni già trẻ đều phải vào ở trong rừng núi. Ông là người thế nào dám bỏ núi rừng về kinh kỳ đi lại tự nhiên như thế này? Có phải khinh thường pháp luật của vua không? 

Sư Tông Diễn trả lời:

– Mệnh lệnh của vua mà có ai dám trái phạm, chỉ vì kẻ Tăng quê mùa này ở trong núi sâu được một viên ngọc quý, mang đến đây để dâng hiến nhà vua, xin ông đạo đạt lên vua cho tôi dâng ngọc, dâng xong tôi sẽ trở về núi.

Quan Đề lĩnh nghe xong liền vào triều tâu lên vua. Vua sai quan Đề lĩnh ra nhận ngọc đem vào vua xem. Nhưng Tông Diễn muốn đích thân gặp vua, ngọc thật ra cũng chẳng có mà chính là muốn can gián vua, thoát khỏi tội diệt Phật. Vua không đồng ý cho ông đích thân vào dâng ngọc. Sau ba tháng vẫn không được gặp vua, ông viết một tờ biểu, để vào trong hộp nhờ người dâng lên vua cùng lời nhắn: “Xin nhà vua chọn lấy một ông quan văn trung trực thanh liêm, tắm gội và trai giới ba ngày, sẽ ra nhận ngọc quí dâng lên vua”. 

Làm đúng như lời Tông Diễn dặn, vị quan văn bưng hộp ngọc đến trước triều dâng lên vua, khi mở ra xem chỉ là một tờ biểu, chứ không có hòn ngọc nào. Vua phán vị quan văn đọc tờ biểu cho vua nghe. Trong đó đại ý viết rằng, các vị vua thời Lý, Trần đều hết sức coi trọng Phật giáo, nhờ đó mà quốc gia thịnh trị. Đạo Phật khiến người ta biết sống lương thiện, không sân si, không giết người cướp của, do đó đạo Phật được ví như viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao đến giờ đạo Phật lại bị phỉ báng, cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội…

Nghe qua thấy lý lẽ rõ ràng, sự tình đầy đủ, lời văn sáng suốt, ý tứ thâm trầm, vua bèn ra lệnh quan Đề lĩnh dẫn Tông Diễn vào triều.

Sau khi đàm đạo, vua phán: “Đạo Phật là viên ngọc quý, chẳng lẽ trong nước chúng ta không dùng, Tăng Ni hay khuyên người làm thiện, tại sao lại vất bỏ đi? Người đem Phật pháp khai hóa dân chúng cũng là phương pháp tốt giúp cho triều đình trị dân”. 

Vua liền mời thiền sư ở lại chùa Báo Thiên để bàn luận đạo lý, còn được ban cho quyền ra vào nội cung để tuyên dương chính pháp, đồng thời ra lệnh thu hồi lệnh bắt tăng ni lên rừng.

Vua sám hối và nguồn gốc bức tượng độc nhất được ghi vào sách kỷ lục Guinness

Vua Lê Hy Tông đã thấm nhuần đạo lý, thành tâm sám hối lỗi trước của mình, nên tạc hình vua quỳ mọp với tượng Phật trên lưng để tỏ lòng thành sám hối.

Pho tượng “vua sám hối” độc nhất chỉ có ở Việt Nam, với tạc hình độc đáo đã được ghi vào sách kỷ lục Guinness. Nhiều người khi nhìn bức tượng này cho rằng đây là một sự trừng phạt khi thấy Đức Phật ngồi trên lưng một vị vua đang khom mình.

Pho tượng “vua sám hối” độc nhất chỉ có ở Việt Nam, với tạc hình độc đáo đã được ghi vào sách kỷ lục Guinness. (Ảnh: kienthuc.net)

Nhưng trái lại, “Dáng quỳ gối phủ phục sát mặt đất của tượng vua thể hiện một sự quy phục tuyệt đối. Đó là sự hối lỗi chân thành, một sự thay đổi xuất phát từ sâu sắc trong tim chứ không gượng ép và do đó đây là một sự nhận lỗi, sửa sai chứ không phải là một sự trừng phạt”, nhà sư Thích Tâm Hoan, trụ trì chùa Hòe Nhai – nơi đặt pho tượng độc nhất vô nhị này cho biết.

Bức tượng do vua Hy Tông sai tạc, ngoài việc để sám hối với Đức Phật vì hành vi đắc tội khinh nhờn của mình, ông còn gửi gắm lời nhắn nhủ rằng, tất cả mọi người hãy tu thân sửa lỗi để sống tốt hơn. Nhất là những quan lại nắm chức và cầm quyền trong tay thì lại càng phải xem lại chính mình. Pho tượng không chỉ là một sự hoài cổ, mà còn là bài học lưu truyền cho muôn đời sau.

Cũng kể từ đó, vua Lê Hy Tông được mệnh danh là vị vua anh minh đức độ nhất thời Lê Trung Hưng với hơn 30 năm trị vì đất nước trong thanh bình.

Minh quân không thể xa rời chính tín, chính đạo, càng không thể bức hại, đổ oan

Trong lịch sử nhân loại, việc người quyền lực nhất của một quốc gia hay một đế chế hối lỗi và sửa sai sau những hành động đàn áp tín ngưỡng không phải chỉ có mỗi vua Hy Tông. Cũng như các vị hoàng đế La Mã tiền triều, vua Flavius Valerius Aurelius Constantinus (274-337) vốn là người chỉ tin tôn giáo La Mã và phủ nhận sự tồn tại của các vị Thần khác không thuộc tôn giáo của mình. Nhưng rồi vì một giấc mơ điểm hóa, ông đã thay đổi và chấp nhận đa Thần, tức là chấp nhận các tôn giáo khác, đặc biệt là Cơ Đốc giáo. Nhờ sự cải biến tư tưởng này, Constantinus trở thành vị hoàng đế đầu tiên thống nhất đế chế La Mã, và cũng là người chấm dứt 300 năm thảm sát đẫm máu các tín đồ Cơ Đốc giáo ở xứ sở này.

Flavius Valerius Aurelius Constantinus cũng là người ban bố sắc lệnh Milano (13/6/313) chấm dứt thảm sát Cơ Đốc giáo và ông được coi là người giải oan cho Cơ Đốc giáo. Thậm chí người ta đã cho rằng, chính công lao phục hưng Cơ Đốc giáo của ông đã lập nên công đức vĩ đại nhất, ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển của toàn bộ nền văn minh trong lịch sử phương Tây.

Xưa bàn về bậc quân vương sáng suốt, Khổng Tử đã từng giảng rằng:

Cho nên nói, Trời giáng thiên tai, Đất sinh điềm quái dị chính là để cảnh báo quân vương. Bề tôi ở trong mộng mà gặp phải những điều kỳ quái thì chính là Thượng thiên cảnh cáo bề tôi. Tai họa yêu ma không thể thắng được quốc chính tốt, ngăn chặn ngủ nằm mộng không bằng tu dưỡng đức hạnh tốt. Nếu có thể làm được việc bỏ ác theo thiện, hay kiên trì cái thiện trừ bỏ cái ác thì chính là biện pháp trị quốc, hưng quốc tốt nhất. Chỉ có bậc quân vương sáng suốt mới có thể làm được điều này.

Thế nên người trị vì tu dưỡng đức hạnh, kiên trì cái thiện bỏ cái ác chính là phúc đức của quốc gia. Muốn lưu danh muôn thuở, thu phục lòng dân thì chỉ có thể thực hành đạo đức. Đạo đức đó muôn đời đều là từ chính tín, chính đạo giáo dưỡng mới nên.

Người trị vì tu dưỡng đức hạnh, kiên trì cái thiện bỏ cái ác chính là phúc đức của quốc gia. (Ảnh: vanhien.vn)

Người trị vì, vì thế không thể xa rời, loại bỏ hay đàn áp chính tín, chính đạo. Chính thể hùng mạnh nào thì cũng đều cần nền văn hiến vững chắc, trong đó không thể thiếu minh triết dựa trên tín ngưỡng, thực hành tâm linh thuần thiện, bác ái.

Không tìm hiểu cho thấu triệt mà đã quy chụp, thành kiến, rồi độc đoán bức hại, đẩy một quần thể người thiện lương ngày ngày tu tâm tính trở thành người tốt hơn nữa về phía đối lập với mình và dân tộc. Đó vừa là cái tội, nghiệp của bản thân, mà cũng lại mang cả dân tộc tới chỗ vô đạo, vô phép. Chỉ có sám hối, quay đầu, khiêm nhường lắng nghe và suy xét một cách có trí tuệ mới là cách tốt nhất dành lại lòng dân. Lòng dân như nước, nước êm thì sợ gì thuyền lật! 

Trương Thanh