Hợp pháp hóa mại dâm đã được nhiều nhà hoạt động cấp tiến đề cập tới từ nhiều năm trước. Và mới đây một cán bộ của Bộ Tư Pháp cho rằng coi mại dâm là một nghề sẽ có lợi nhiều hơn hại. Những lý lẽ đưa ra đều có vẻ hợp lý và để bảo vệ một cộng đồng người không hề nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, những lý lẽ đó đều dựa trên những ngộ nhận cơ bản, mà nếu chúng ta chưa thể thông tỏ thì hậu quả đem lại sẽ thật đáng lo ngại.

Ngộ nhận 1: Thỏa mãn tính dục là “bản năng” của con người như hít thở, ăn uống

Nhiều ý kiến cho rằng mại dâm dựa trên nhu cầu thiết yếu của con người, là bản năng để duy trì nòi giống nên đó là nhu cầu sinh tồn. Và rằng giá trị cao đẹp và bản năng, cái nào quan trọng hơn? Người ta cho rằng con người cần cả hai cái đó, nên không thể “vùi dập” một thứ bản năng như tính dục.

Nhưng người ta đã đánh đồng tình dục thành một nhu cầu bản năng, mà quên mất đó chỉ là công cụ để thông qua đó giúp con người duy trì nòi giống. Vì dục vọng của mình, con người đã tự đánh lừa bản thân rằng tình dục là một bản năng của mình.

Bản năng tự nhiên là phản ứng tự có của con người đáp trả đối với một kích thích từ bên ngoài mà không hề thông qua sự suy xét của lý trí. Nhưng sự thật khách quan chứng minh rằng, con người hoàn toàn có thể thông qua suy xét lý trí, so sánh với quy phạm đạo đức, tự ước thúc mình mà kìm hãm được dục vọng. Thế nên nó không phải là bản năng, nên cũng chẳng phải là nhu cầu thiết yếu đến thế.

Bản năng là khi bạn hít thở mà không cần sự tác động của lý trí, và lý trí có muốn tác động cũng không được. Bạn không thể ngừng hít thở lâu, nhưng có thể ngừng ăn món kem khiến đê mê cả con người. Cái gì “đào tạo” và thay đổi được thì đó không phải là bản năng.

Bản thân từ “bản năng” có gốc Hán “本能”, có nghĩa là cái khả năng tự nhiên mà có, nhưng nó không có tác động ngược lại rằng nó có thể chi phối được con người. Đổ lỗi hoàn toàn do tự nhiên mà tự chối bỏ khả năng kiểm soát “bản năng” là một sự ngộ nhận và ngụy biện lớn của loài người trong suốt hàng nghìn năm phát triển văn minh.

Hơn nữa, đổ lỗi cho bản năng và bảo hãy sống theo bản năng. Vậy nếu ai cũng thích gì làm nấy, cần gì làm nấy, sống theo bản năng thì đến lúc cũng chẳng cần chính quyền hay luật pháp nữa. Bởi con người có quyền sống theo bản năng mà.

Nhưng chúng ta khác con vật cũng ở chỗ đó, có thể ước thúc hành vi của mình. Chúng ta không thể chỉ có sống theo bản năng được.

Lối suy nghĩ tôn trọng bản năng có thể nói là một tư tưởng phái sinh từ thuyết tiến hóa đang ngày càng bị nhiều nhà khoa học phản đối. Một thứ học thuyết nhiều sơ hở lại được con người dễ dàng chấp nhận và đưa vào sách giáo khoa ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhưng đến lúc cả thế giới nhận ra và lên án thì hậu quả của nó đã quá rộng lớn.

Đã đến lúc nhận thức lại, khẳng định và nhắc nhở mình rằng: Chúng ta không phải là con vật. Bản năng là khả năng tự nhiên chúng ta có được để sinh tồn chứ không phải là việc chúng ta lạm dụng khả năng đó để thỏa mãn dục vọng rồi lại đổ cho đó là vì bị nó chi phối.

Con người càng muốn thỏa mãn dục tính thì càng ngày càng mất nhân cách. (Ảnh: vietbao.vn)

Ngộ nhận 2: Mại dâm có nguồn gốc từ xa xưa, mọi thứ trường tồn với thời gian đều là vì nó hợp lý, nên được chấp thuận

Vậy hẳn là những thứ như trộm cắp, giết người… cũng là hợp với lẽ của Đất Trời nên cần phải được ghi nhận như một nghề? Lòng tham, dục vọng của con người đời nào cũng có, nó đều có từ thời xa xưa đấy thôi. Vậy phải chăng vì không thể cấm cản và loại trừ được nó thì chúng ta lại đi công nhận nó luôn cho dễ “quản lý”?

Bên cạnh đó, những ví dụ về việc mại dâm có từ thời xa xưa trong các đền thờ Thần đều đã bị hiểu sai đi từ bản chất.

Vào cái thời mà người ta cho rằng nhân Thần cùng đồng tại, loài người còn rất tôn thờ Thần linh. Con người hiểu rằng mọi thứ mình có được đều là do Thần ban cho. Việc sinh sản cũng vậy, nó có một ý nghĩa thiêng liêng và là sự ban ơn của Thần để loài người có thể duy trì được nòi giống.

Để con người “chịu” làm cái việc sẽ dẫn đến việc mang nặng đẻ đau, chăm lo vất vả cho con cái suốt một đời người như thế, Thần phải cho họ cái dục tính để như miếng mồi ngon ngọt dụ dỗ loài người. Nhưng mục đích chính là để duy trì nòi giống, chứ không phải để phóng túng, buông thả.

Nếu loại bỏ được dục tính, thì việc đó là thực hành một “nghi lễ” thiêng liêng. Thế nhưng con người mê muội và buông thả, họ chẳng thể kiểm soát được mình mà còn lợi dụng nghi thức thiêng liêng đó để thỏa mãn dục vọng. Đó là sự báng bổ Thần linh nhưng lại được hiểu sai sau hàng nghìn năm rằng mại dâm có nguồn gốc từ chính các đền thờ.

Thứ ngôn ngữ tượng hình ẩn giấu nhiều nội hàm thâm sâu như tiếng Hoa chính thể cũng thể hiện được sự lệch lạc dần của tư duy con người. Chữ “Kỹ” (kỹ nữ) là “伎” thể hiện ý tứ rằng: Kỹ nữ chỉ bán tài nghệ, không bán thân. Bởi vì kỹ nữ thông thường đều nhảy múa, hát ca, ngâm thơ, đối đáp để làm đẹp lòng người thưởng thức.

Hàng nghìn năm sau, khi tư tưởng của con người dần lệch lạc, họ cho cải cách chữ thành giản thể. Từ Kỹ đã trở thành “妓”, có phản ánh ý tứ rằng kỹ nữ bán thân chứ không bán tài nghệ. Bởi vì kỹ nữ ngoài thân thể ra thì chẳng có tài nghệ gì đặc biệt cả.

Thời đại La Mã hùng mạnh là thế, suy vong cũng chỉ vì hoang dâm vô độ, phóng túng dục tính, vô thần luận. (Ảnh: Pinterest)

Ngộ nhận 3: Các nước văn minh đã đi tiên phong và hợp pháp hóa để giảm tệ nạn, kiểm soát dễ hơn

Mọi nền văn minh dù phát triển đến đâu, họ đều phải mò mẫm học hỏi và tìm ra cách thức khôn ngoan nhất cho mọi vấn đề bằng việc tự trải nghiệm mà không có tham chiếu. Khi họ đang khai phá con đường thì chưa chắc để nói rằng con đường đó sẽ đi đúng đến cái đích họ mong đợi. Nếu chúng ta vội vã đi theo thì cũng có thể đâm xuống vực thẳm mà không kịp quay lại.

Bắt chước cũng là một cách để học được sự khôn ngoan nhưng nó phải đi kèm với sự suy xét, quán chiếu.

Những nước chủ trương hợp pháp hóa mại dâm đều hướng đến mục đích là để ngăn chặn các bệnh lây lan qua đường tình dục và bảo vệ người bán dâm khỏi bị lạm dụng. Người ta cho rằng khi người hành nghề đăng ký hoạt động với chính quyền, họ sẽ tuân thủ theo các nguyên tắc về an toàn tình dục và có quyền từ chối các hành vi lạm dụng của người chủ hoặc khách hàng.

Nhưng ở nhiều nơi, sau vài thập kỷ hợp thức hóa mại dâm đã cho thấy những bất cập.

Một nghiên cứu vào năm 2009 của giáo sư Dina Siegel thuộc đại học Utrecht, Hà Lan, cho thấy tình trạng buôn bán phụ nữ trái phép vào Hà Lan gia tăng kể từ khi mại dâm được hợp pháp hoá. Không thể phân biệt được những người làm mại dâm tình nguyện và bị bắt ép, việc bảo vệ người hành nghề mại dâm là hầu như không thể đạt được.

Dịch vụ mại dâm chắc chắn sẽ có liên quan tới hoạt động buôn bán người. Ngay cả những nơi có hệ thống pháp luật chặt chẽ như Bắc Mỹ hay Tây Âu, Bắc Âu, một bộ phận không nhỏ những người bán dâm được đưa vào nghề thông qua các đường dây tội phạm xuyên quốc gia.

Khu đèn đỏ Holbeck ở Anh đã trở thành nơi đặc biệt nguy hiểm với những vụ cướp, bạo lực, cạnh tranh không lành mạnh, ma túy… trong khi cảnh sát không quản sát sao được như trước khi được hợp pháp hóa.

Karen Hargreaves, 54 tuổi, sống gần khu đèn đỏ, cho biết cuộc sống của người dân đảo lộn kể từ khi khu vực này được công nhận, đặc biệt là vào ban đêm.

“Trước năm 2014, có rất ít gái bán dâm ở đây, chủ yếu là những cô gái nghèo trong địa phương, những người bần cùng. Bây giờ, Holbeck là cục nam châm hút gái mại dâm trên khắp nước Anh, có cả nước ngoài. Trước kia, họ phải che giấu bản thân nhưng giờ thì chẳng còn sợ gì cả vì cảnh sát cũng không động đến họ”.

Con gái Karen, khi đó mới 15 tuổi, từng bị quấy rối khi đi qua khu vực này. Cô bé quá sợ nên bây giờ không dám đi qua khu Holbeck Lane vào buổi tối. Vài tháng trước, một bé gái liều lĩnh đi đường vào buổi tối và hôm sau được tìm thấy nằm trên vệ đường.

Thậm chí người ta đã nói phố đèn đỏ “hợp pháp” trở thành nơi quái dị nhất nước Anh. Giá nhà đất ở quanh đó giảm mạnh, các cửa hàng kinh doanh đều mất khách nhất và môi trường sống an bình của cư dân bị đe dọa.

Trước những hệ luỵ của việc hợp pháp hoá, Hà Lan, Úc, New Zealand đều đang xem xét điều chỉnh lại chính sách đối với mại dâm.

Các quốc gia đã từng hợp pháp hóa mại dâm khác nhưng thấy không thật sự giải quyết được vấn đề như họ đã tính toán nên đã loại bỏ việc hợp pháp hóa này bao gồm cả các nước bắc Âu tiến bộ nhất như Nauy, Thụy Điển. Ngay cạnh Việt Nam, quốc gia được mệnh danh là “thiên đường sex” Thái Lan sau nhiều năm để mại dâm được hoạt động chính thức cũng đã truy quét gắt gao từ năm 2014. Tướng Prayuth tuyên bố rằng, chính phủ cần phải cải cách vấn đề này để khôi phục nền đạo đức của đất nước.

Phố đèn đỏ tại Hà Lan. (Ảnh: itinari.com)

Ngộ nhận 4: Người làm mại dâm là tự nguyện

Sự ngộ nhận này đã được chứng minh ở ngay trong phần trên. Việc hợp thức hóa mại dâm sẽ chỉ càng đẩy mạnh hoạt động buôn bán, giam giữ người trái phép và bắt ép, lừa đảo các cô gái có hoàn cảnh khó khăn vào nghề.

Thậm chí nếu họ có thật sự tự nguyện vào nghề thì đó cũng là bởi vì họ không có lựa chọn nào khác tốt hơn. Khi người ta không có lựa chọn thì đó không thể nói là vì người ta muốn thế và tự nguyện. Đa số phụ nữ mại dâm xuất từ các gia đình kinh tế khó khăn hoặc có mâu thuẫn.

Chỉ có thể dùng từ tự nguyện nếu một thanh niên khoẻ mạnh, có trình độ, có các mối quan hệ xã hội vững chắc, với nhiều lựa chọn nghề nghiệp quyết định làm công việc nhiều rủi ro và thường bị xã hội lên án hoặc coi rẻ như mại dâm.

Ngộ nhận 5: Việc không được thỏa mãn tính dục tỷ lệ thuận với tội phạm hiếp dâm

Như đã đặt vấn đề ngay từ đầu, việc thỏa mãn tính dục được ghép cho là do bản năng là một sự tự lừa mình dối người của những kẻ bao biện và không thể khống chế được dục vọng của mình.

Anh là quốc gia đã hợp pháp hóa để dễ bề quản lý ngành kinh doanh vốn tự có này. Nhưng đáng kinh ngạc Anh vẫn nằm trong danh sách 10 quốc gia đứng đầu thế giới về tội phạm hiếp dâm.

Bộ Tư pháp và Văn phòng Thống kê quốc gia Anh đã thông cáo vào tháng 1/2013 rằng, có gần 85.000 phụ nữ bị hãm hiếp tại Anh và xứ Wales, hơn 400.000 phụ nữ bị tấn công tình dục mỗi năm. Trung bình cứ 5 người thuộc độ tuổi 16 đến 19 thì lại có một người bị cưỡng hiếp từ khi 16 tuổi.

Hợp pháp hóa mại dâm không giúp giảm tỉ lệ phụ nữ bị quấy rối tình dục (Ảnh: The Saigon Post Newspaper)

Điều đó có thể cho thấy việc hợp pháp hóa mại dâm không hẳn đã làm giảm tỷ lệ tội phạm hiếp dâm như người ta vẫn ngộ nhận.

Có câu chuyện về Liễu Hạ Huệ thời Xuân Thu (770-476 trước Công Nguyên) rằng: Ngày kia có một phụ nữ vô gia cư đã tìm nơi trú ẩn trong một đêm đông lạnh. Liễu Hạ Huệ lo ngại rằng cô ấy có thể chết vì lạnh, nên ông đã để cô ngồi trên đùi, quấn áo mình quanh người của cô và áp chặt cơ thể của cô vào mình. Họ đã ngồi như vậy suốt đêm và ông đã không làm bất kỳ điều gì không đứng đắn.

Nhờ điều này, ông được xem là một nam tử Hán chính trực, và có một câu tục ngữ về ông: “Tọa hoài bất loạn” (ngồi mà trong lòng vẫn không loạn).

Thời nay mà kể chuyện này, nhiều người sẽ nói chắc ông này có vấn đề về giới tính. Họ không thể tin được rằng người đàn ông có thể làm được như vậy trong hoàn cảnh không thể khó khăn hơn để khống chế tính dục của mình.

Thật ra sự tiết chế và thực hành đạo đức ở mọi nền văn minh đều đạt được thông qua việc giáo dục. Nếu không có những quy phạm đạo đức như những sợi chỉ buộc chân voi thì loài người việc gì cũng dám làm.

Và khi đã có những quy phạm đạo đức và thực hành nghiêm túc, quyết tâm, thì mọi cái được dán nhãn “bản năng” kia đều có thể được kìm hãm. Đó không phải là một câu chuyện hoang đường mà hoàn toàn có thể thực hiện được nhờ giáo dục và ý thức chung của cộng đồng.

Có phân tích thế nào thì chúng ta cũng sẽ thấy nghề mại dâm khó có thể là một nghề đáng tự hào. Dù đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước nhưng nó chưa bao giờ được xã hội công nhận và tôn vinh. Sẽ chẳng có bố mẹ nào tự hào khi con cái khoe với bạn bè rằng bố mẹ mình làm nghề mại dâm. Và cũng chẳng có bố mẹ nào vui vẻ khi con mình nói sau này sẽ làm nghề mại dâm kể cả khi nó đã trở thành một nghề nghiệp.

Một nghề nghiệp dựa vào sự chịu đựng của người phụ nữ là bất nhân. Một nghề nghiệp hợp pháp hóa việc ngoại tình vì để thỏa mãn nhu cầu sinh lý là bất nghĩa. Một việc bất nhân, bất nghĩa vậy có thể tồn tại chỉ vì những ngộ nhận của con người, đó là một bi kịch.

Trương Thanh