Phần 4: Một ngành dược “ốm yếu”

Thuốc là một hàng hoá nhưng là một hàng hoá đặc biệt. Vì nó không được lựa chọn, không được mặc cả, không thể thuận mua vừa bán mà phải phụ thuộc vào sự chỉ định của thầy thuốc và nhiều khi trước cái sống và cái chết, người ta có thể chấp nhận mua bằng bất cứ giá nào.

Vì thế, khi mặt trái chỉ biết đến lợi nhuận của nền kinh tế thị trường kết hợp với tệ tham nhũng của hệ thống quan liêu (thủ tục hải quan, thủ tục đấu thầu…), nó tạo nên những cỗ máy làm tiền khổng lồ, ăn mòn trên sức khỏe và tính mạng của con người.

Xem Phần 3: Một thị trường phân phối nhiều lũng đoạn

Hầu hết phải nhập nguyên liệu

Ông Trần Túc Mã – Tổng Giám đốc Công ty CP Traphaco cho biết, 5 nước cung cấp nguyên phụ liệu hàng đầu cho ngành dược Việt Nam gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Áo, Tây Ban Nha và Thái Lan. Riêng Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm gần 70% thị phần thị trường nguyên phụ liệu dược phẩm Việt Nam. Ba nước tiếp theo lần lượt chiếm 6%, 5% và 4%, theo thông tin từ báo Tiền Phong.

Còn lại 15% bao gồm các nước khác (xem bảng) và thị trường sản xuất dược nội địa.

Thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất thuốc của Việt Nam. (Nguồn: VINANET, Ng.Hương, Tổng quan ngành dược phẩm Việt Nam năm 2013)
Thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất thuốc của Việt Nam. (Nguồn: VINANET, Ng.Hương, Tổng quan ngành dược phẩm Việt Nam năm 2013)

Đương nhiên có những sản phẩm dược để sản xuất buộc chúng ta phải nhập khẩu nguyên liệu nhưng có những loại đông dược với nguyên liệu rất sẵn có ở Việt Nam mà phải nhập khẩu thì thật sự rất đáng buồn”, ông Mã nói trên báo Tiền Phong.

Khoảng tháng 3/2015, ông Huỳnh Trung Chánh – Phó chủ tịch thường trực HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Domesco nhận định, ngành sản xuất nguyên liệu dược trong nước hiện là con số 0, khi một số mặt hàng sản xuất được thì không đi tới đâu và nguồn dược liệu vẫn rất phân tán, khó có thể cạnh tranh với nguồn dược liệu của Ấn Độ và Trung Quốc, theo thông tin từ Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

Việc không chủ động được nguồn nguyên liệu trong sản xuất dược phẩm dẫn đến nhiều hệ lụy như khả năng cạnh tranh thấp (so với thuốc do Trung Quốc, Ấn Độ sản xuất), chất lượng sản phẩm không đảm bảo, giá cả bấp bênh theo biến động của tỷ giá, biến động về thị trường. Doanh nghiệp có thể phải dừng sản xuất khi xảy ra sự cố tại nước cung cấp nguyên liệu.

Theo thống kê, 90% nguyên liệu sản xuất trong ngành dược cả tân dược và đông dược hiện đều phải nhập khẩu. Trong khi nước ta có trên 3.000 loài cây trong rừng tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có 50 loài có dược tính cao, theo Bộ Y tế, VOH cho hay. (Ảnh qua duoclieu.org)
Theo thống kê, 90% nguyên liệu sản xuất trong ngành dược cả tân dược và đông dược hiện đều phải nhập khẩu. Trong khi nước ta có trên 3.000 loài cây trong rừng tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có 50 loài có dược tính cao, theo Bộ Y tế, VOH cho hay. (Ảnh qua duoclieu.org)

Sản xuất theo kiểu “ăn xổi”

Cả nước hiện có gần 180 công ty sản xuất thuốc. Nhưng các doanh nghiệp chủ yếu vẫn sản xuất nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn (kháng sinh), vitamin, thuốc bổ, giảm đau… còn các thuốc đặc trị lại chưa nhiều – báo cáo từ năm 2013 của các nhân sự của Bộ Y tế cho hay, theo báo Người Lao Động.

Số lượng công ty sản xuất đã ít, trong tổng số gần 180 công ty lại chỉ có 130 công ty đạt chuẩn Thực hành tốt sản xuất (GMP-WHO) (con số này năm 2011 là 98 công ty). Theo đó, còn tới 50 công ty (tương đương 28%) vẫn trong tình trạng… khó kiểm soát được chất lượng sản phẩm.

Lâu nay nói là công nghiệp dược nhưng thực tế nhiều công ty hiện vẫn dùng công nghệ lạc hậu và không khác gì nấu cao thuốc”, tức chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu đã tinh chế từ nước ngoài về rồi xử lý qua các khâu cô đặc hoặc hóa lỏng và đóng vỉ, chai, PGS-TS Lê Văn Truyền – nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết trên tờ sggp.org.vn hồi năm 2011.

Trong tổng số 5 mức phát triển công nghiệp dược do Tổ chức Phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO) phân loại, công nghiệp dược của Việt Nam mới chỉ ở mức 3, nghĩa là “công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập”, theo thông tin từ Bộ Y tế (Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”). (Mức 2 là đóng gói bán thành phẩm nhập khẩu, gia công).

Cơ cấu thị trường thuốc chủ yếu là thuốc generic (thuốc vừa hết bảo hộ độc quyền) chiếm tới 51,2% trong năm 2012 và biệt dược (thuốc mới được sáng chế và độc quyền sản xuất) là 22,3%, theo Mạng Thông tin Khoa học&Công nghệ TPHCM.

Điều này cho thấy, còn quá nhiều hạn chế trong việc nghiên cứu sản xuất thuốc mới của ngành dược Việt Nam.

Một lãnh đạo công ty thừa nhận hồi năm 2011: “Cứ nghiên cứu thị trường bán chạy loại nào thì sản xuất loại đó, chứ ngồi nghiên cứu để sản xuất được các loại biệt dược thì biết bao giờ có sản phẩm”, theo trang tin sggp.org.vn.

Giám đốc một công ty dược phẩm trung ương nhận định: “Hễ thấy công ty nào có sản phẩm bán chạy thì 1-2 tháng sau thế nào cũng vài ba công ty dược khác sản xuất thuốc đó. Chỉ có điều tên gọi khác”. Vì không đầu tư nghiên cứu, nên hầu hết những loại thuốc sản xuất theo kiểu “ăn xổi” này đều là thuốc thông thường, dễ nhập khẩu nguyên liệu và công nghệ sản xuất đơn giản.

Sản xuất thuốc trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu sử dụng thuốc (chủ yếu là thuốc generic), trong khi Việt Nam có gần 180 nhà máy sản xuất thuốc tân dược hoặc thuốc dược liệu. (Ảnh: muasamcong.vn)

Năm 2011, PGS-TS Lê Văn Truyền cho biết, từ năm 2001 – 2009, Việt Nam chỉ có 13 bằng độc quyền sáng chế thuốc, trong khi nước ngoài có tới 1.198 bằng độc quyền sáng chế được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ, nhiều gấp 92 lần. Trong cả năm 2010, ngành dược trong nước có gần 9.000 số đăng ký thuốc thì thuốc nhập ngoại cũng đăng ký con số tương đương.

Trong khi đó TS Lê Hậu, Khoa dược Đại học Y dược TPHCM, đưa ra ý kiến với điều kiện của Việt Nam thì chưa nhất thiết chú trọng đến nghiên cứu phát minh ra những loại thuốc mới, bởi chi phí rất cao. Ngành dược Việt Nam chỉ cần tập trung sản xuất thuốc generic, chi phí thấp cũng đủ cho nhu cầu điều trị trong nước. Còn nếu khá hơn, nên ứng dụng các kỹ thuật mới để tăng tính khả dụng của các dạng thuốc có sẵn, theo thông tin từ trang sggp.org.vn.

Theo tính toán của Bộ Y tế, hiện mỗi năm có khoảng 25-30 hoạt chất hết bản quyền với trị giá hàng chục tỷ USD được các nước trên thế giới đổ xô vào khai thác. Với công nghệ yếu kém hơn, nguyên liệu phụ thuộc nhập khẩu, thì khi các công ty dược Việt Nam tiếp cận được và mày mò sản xuất thì đã thua một bước cả về giá cả, thời điểm và sức quảng cáo đối với các hãng dược của Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Việc nhiều công ty dược trong nước chỉ tập trung sản xuất “ăn theo” kiếm lời nhanh hoặc “cắt lô” thuốc ngoại để phân phối độc quyền, khiến công nghiệp dược nội địa đã yếu càng không tìm ra sức bật.

Bệnh nhân nghèo ngồi chờ khám, phát thuốc miễn phí tại giáo xứ Dốc Mơ, Gia Kiệm, Đồng Nai, tháng 4/2015. (Ảnh: voh.com.vn)
Bệnh nhân nghèo ngồi chờ khám, phát thuốc miễn phí tại giáo xứ Dốc Mơ, Gia Kiệm, Đồng Nai, tháng 4/2015. (Ảnh: voh.com.vn)

Khi nào thị trường thuốc Việt Nam đạt được bình ổn?

Trả lời cho câu hỏi, vì sao ngành dược Việt Nam lại “ốm yếu”, bà Phạm Khánh Phong Lan – Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, phụ trách lĩnh vực dược cho biết, phát triển tự phát thiếu chính sách định hướng và hỗ trợ là một trong những nguyên nhân.

Trên báo Tuổi Trẻ, bà Lan thẳng thắn chỉ ra các vấn đề trong ngành dược Việt Nam: lạm phát số lượng nhà máy, lạm phát công ty phân phối, trùng lặp về sản phẩm… gây ra nạn cạnh tranh không lành mạnh; các cơ sở sản xuất thuốc trong nước hạn chế về nguồn lực nên chủ yếu đầu tư các dây chuyền sản xuất các dạng bào chế đơn giản, chạy theo số đông mà ít đầu tư nghiên cứu, áp dụng công nghệ để sản xuất thuốc mới; đã không có chính sách hỗ trợ sản xuất, nhưng lại mở cửa cho nhập khẩu ồ ạt thuốc generic từ rất nhiều quốc gia, với chất lượng đôi khi hết sức đáng ngờ.

Tựu chung lại, sự yếu kém trong ngành dược nội địa và khâu quản lý đã khiến thị trường thuốc bị thả nổi theo chuỗi sản xuất và phân phối của từ công ty dược nước ngoài cho đến các hãng phân phối, nhà thuốc bệnh viện ở trong nước.

“Phải giải quyết tận gốc các nguyên nhân nói trên để lành mạnh hóa thị trường”, bà Lan cho hay. “Cần có quy định hạn chế số lượng các tầng nấc trung gian, thặng số tối đa, trên cơ sở giá kê khai được kiểm soát để chống kê khống, và in giá thuốc đăng ký lên bao bì”.

Cần hạn chế các trung gian, khi có tới hơn 2000 nhà phân phối, và có chế tài nghiêm khi phát hiện hành vi bắt tay chuộc lợi. Bệnh viện không nên đấu thầu mà tăng tự chủ mua thuốc và tăng kiểm soát kê đơn”, bà Lan đề nghị.

Hành vi “lợi dụng việc kê đơn thuốc để trục lợi” sẽ có các chế tài nghiêm khắc để xử lý trong Luật Dược sửa đổi, ông Đỗ Văn Đông, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế cho biết trên báo Lao Động.

Ngoài ra, “việc kê đơn phải ghi theo tên generic (tên INN) để tránh hiện tượng tiêu cực giữa người kê đơn và doanh nghiệp bán thuốc nhằm hưởng hoa hồng”, theo Luật Khám chữa bệnh và các văn bản pháp luật hướng dẫn Luật điều chỉnh, ông Đông cho hay.

Phan A tổng hợp

Xem thêm:

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay:

Từ Khóa: Thể Loại: Trong nước Xã Hội