“Tây Du Ký” từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được sự yêu mến của mọi người. Người ta không chỉ yêu thích các hình tượng nhân vật trong đó, tình tiết trong đó, mà cả tinh thần lạc quan hướng thiện thể hiện trong tác phẩm. Nhận thức của người Trung Quốc đối với tu luyện, Thần Phật, thế giới thiên quốc, yêu ma quỷ quái, rất nhiều đều có liên quan với “Tây Du Ký”. Về nội hàm và ý nghĩa chính của “Tây Du Ký” luôn có nhiều cách nói khác nhau và phức tạp, khó có thể đưa ra được kết luận. Chuyên mục Sao của thời báo Đại Kỷ Nguyên xin đưa ra một số lý giải xung quanh vấn đề này, mong được cùng độc giả gần xa góp ý, thảo luận.

Tác phẩm “Tây du Ký” kể về quá trình thỉnh kinh của 4 thầy trò Đường Tam Tạng. Câu chuyện hấp dẫn người đọc với những tình tiết ly kỳ, yêu ma quỷ quái, nhưng ở một khía cạnh khác, cả tác phẩm thực chất chính là ẩn ý về quá trình tu luyện của một người trên con đường viên mãn đắc Đạo.

Con đường tu luyện là một hành trình rất gian khổ và cô đơn

Sau 9 năm trèo đèo lội suối, lênh đênh trên biển, cuối cùng Ngộ Không cũng tìm thấy nơi ở của Bồ Đề Tổ Sư. Xét theo khía cạnh tu luyện, con đường xa xôi thế này dù sao cũng chỉ là quá trình mà một người cầu Đạo phải trải qua. Con đường đó không những gian khổ mà còn rất cô đơn vì người tu luyện lúc nào cũng chỉ có một mình, không ai có thể giúp đỡ. Vì sao lại như vậy? Bởi vì quá trình tu luyện chính là tu tâm, tu sửa cái tâm của mình. Mà tâm mình như thế nào chỉ có mình mới có thể biết, biểu hiện bề ngoài thì có thể rất đơn giản nhưng nguồn cơn thì vô số, người khác nói thế nào cũng không trúng. Cho nên chỉ có thể tự dựa vào mình mà ngộ, mà tu lên. Chẳng thế mà mặc cho Ngộ Không năn nỉ người tiều phu dẫn mình đến chỗ ở của Tổ Sư Bồ Đề, ông lão tiều phu vẫn khăng khăng rằng con đường này Ngộ Không phải tự mình bước đi.

“Thạch Hầu nói:

– Ðường đi đến động ngoằn ngoèo dễ lộn, mong ông thương đến, dẫn tôi cùng đi về xóm, tôi xin hậu tạ.

Tiều lão lắc đầu đáp:

– Giúp ông tôi không nệ công lao, ngặt vì tôi còn cha mẹ già, sớm chiều lo phụng dưỡng, phải ở lại hái củi đổi gạo, không tiện làm vừa lòng ông!

Hầu vương nắm tay người kiếm củi, nói:

– Thưa lão huynh, làm ơn đưa tôi đến. Nếu tốt lành, tôi không bao giờ quên ơn chỉ dẫn.

Người kiếm củi nói:

– Bác là người hảo hán mà không biết thông biến. Tôi chẳng vừa nói với bác là gì, bác không hiểu ư? Tôi còn bận kiếm củi, bác cứ đi đi!

Nghe lão tiều than, Hầu vương cảm động, đành phải bái biệt ra đi.”

Con đường tu luyện là một hành trình rất gian khổ và cô đơn. (Ảnh: Xinhuanet)
Con đường tu luyện là một hành trình rất gian khổ và cô đơn. (Ảnh: Xinhuanet)

Nhiều độc giả có thể thắc mắc, đoạn này chỉ là hỏi đường thôi mà? Đâu có liên quan gì đến tu tâm đâu? Nhưng có thể do bạn chưa theo dõi kỳ 1 nên không biết. Người viết đã đưa ra lý giải về vấn đề này rồi, nhưng tiện đây xin được phép nhắc lại.

Bồ Đề Tổ Sư ở nơi nào? Trong truyện viết là, “Linh Đài Phương Thốn sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh động”, thực chất đây chính là một kiểu chơi chữ, bởi từ xưa người ta thường nói tâm thành “Linh Đài”, còn “Phương Thốn” theo đạo Lão chính là đan điền, nằm cách dưới rốn 3 đốt ngón tay, cũng là để ám chỉ chỉ tâm. “Tà Nguyệt Tam Tinh động” lại càng dễ hiểu hơn, “Tam Tinh” (ba ngôi sao) chính là ba nét chấm của chữ “tâm” (心),“Tà Nguyệt” (vầng trăng khuyết) chính là nét móc nằm ngang. Ngoài ra cái tên của vị Tổ Sư này cũng ám chỉ một thiên cơ to lớn. Trong kinh “Kim Cương” của phật giáo có nhắc đến tâm Bồ Đề với nghĩa chỉ bản tính tiên thiên thuần khiết của con người, cho nên quá trình Ngộ Không đi tìm vị Tổ Sư này chẳng phải chính là quá trình tu tâm, quá trình tìm về bản tính chân thật của mình hay sao?

Trừ bỏ ma tính trong bản thân mới có thể đắc Đạo, trở thành Phật

Nhưng tu như thế nào mới có thể trở thành Phật? Trong Phật giáo giảng rằng, con người ta ai cũng có Phật tính đồng thời tồn tại ma tính. Phật tính của con người có thể được biểu hiện là: khoan dung, hay giúp đỡ người khác, chăm chỉ… còn ma tính thì được biểu hiện là: lười biếng, ích kỷ, tham lam…  Cho nên con người ta muốn thành Phật, thì trong quá trình tu luyện phải không ngừng trừ bỏ ma tính của mình. Khi không còn ma tính trong người nữa thì đã tu luyện xong, trở thành một vị La Hán, Bồ Tát hoặc Phật tùy vào mức độ tâm tính của người đó. Chẳng thế mà Thường bất khinh Bồ tát luôn tâm tâm niệm niệm: “Ai ai cũng sẽ thành phật đó mà”.

Trong Tây Du Ký, tác giả Ngô Thừa Ân cũng ngầm nói đến ý này thông qua đoạn: Sau khi bái biệt Bồ Đề Tổ Sư, Ngộ Không dùng phép Cân Ðẩu Vân bay một giờ ra tới biển Ðông, nhắm hướng núi Hoa Quả bay về. Và việc đầu tiên mà Tôn Ngộ Không cần làm là tiêu diệt Hỗn thế ma vương trú tại Thủy tạng động (ở hướng bắc của Hoa Quả sơn).

Nếu như Hoa Quả sơn tượng trưng cho thân thể người (đã nói ở kỳ 4) thì Hỗn thế ma vương này chính là tượng trưng cho ma tính mà người tu luyện cần trừ bỏ. Tên hiệu của Hỗn thế ma vương kia và ma tính trong thân người cũng rất phù hợp với nhau, cho nên việc Ngộ Không tiêu diệt Hỗn thế ma vương cũng là một phương diện trong tu luyện của bản thân. Tiêu đề trong hồi này là: “Ngộ triệt Bồ Đề chân diệu lý, Đoạn ma quy bản hợp nguyên thần” cũng chính là ám chỉ vấn đề này.

Nhập định là tầng thứ mà người tu luyện nhất định phải đạt đến

Sau khi đánh bại Hỗn Thế Ma Vương, Thạch Hầu hưởng những ngày vui vẻ khoái lạc tại Hoa Quả Sơn, có điều Thạch Hầu căn cơ rất cao, phát hiện thấy đao thương dùng không tốt, vì vậy đã tới Long Cung kiếm “Định hải thần châm” (gậy Như Ý).

Huyệt hội âm trong thân thể còn được gọi là "đáy biển". (Ảnh: Internet)
Huyệt hội âm trong thân thể còn được gọi là “đáy biển”. (Ảnh: Internet)

Quá trình Ngộ Không lấy của Long Vương cây Kim Cô bổng, miêu tả làm cho người ta cảm thấy như thân ở trong cảnh, kỳ thực đó cũng chỉ bất quá là tầng thứ tu luyện của Ngộ Không biểu hiện ra mà thôi. Trong truyện nói Ngộ Không từ Thủy Liêm động dưới cầu Thiết Bản mà trực tiếp xuống đáy biển, dưới đáy biển nhìn thấy cây sắt “Định hải thần châm”, cũng gọi là “Như ý Kim Cô bổng”. Thực ra, ở đây tác giả đã dùng một hình ảnh ẩn dụ để nói về định lực và tầng thứ của Tôn Ngộ Không. Trong tu luyện, huyệt hội âm thường được gọi là “đáy biển” cho nên việc Tôn Ngộ Không từ Thủy Liêm động nhảy trực tiếp xuống biển chính là hình tượng hóa của Tôn Ngộ Không khi nhập định. Còn cây “Định hải thần châm” vốn được dùng để đo sự nông sâu của biển chính là ám chỉ khả năng nhập định khi đả tọa của Ngộ Không đã lên tới một mức độ nhất định nào đó.

Tôn Ngộ Không đến hỏi "mượn" binh khí ở Đông Hải Long Cung. (Ảnh: Internet)
Tôn Ngộ Không đến hỏi “mượn” binh khí ở Đông Hải Long Cung. (Ảnh: Internet)

Ngoài ra đoạn miêu tả Thạch Hầu lấy được binh khí ở Đông Hải Long Cung chính là nói đến một vấn đề rất quan trọng trong tu luyện đó là: Đã là người tu luyện thì nhất định phải đạt được khả năng nhập định. Việc Thạch Hầu kiếm báu vật ở Long Cung, thực ra là giải quyết vấn đề căn bản về mặt phương pháp, kết quả tìm được Pháp bảo là “định”, bởi đao thương cũng tương tự như công phu ngoại gia, không thể giải quyết được vấn đề căn bản. Cây “Định hải thần châm” này sau là vũ khí chủ yếu mà Ngộ Không dùng để hàng yêu phục ma, cũng chính là lấy “định” để ức chế các chủng can nhiễu trong tu luyện. Khi một người có thể nhập định thì mọi can nhiễu bên ngoài đều trở nên vô tác dụng, chẳng thế mà giới tu luyện hay có câu: “Một bất động ức chế vạn động”, thực ra cũng chính là ý này.

Lý giải “Tây Du Ký” từ góc độ tu luyện kỳ 5 xin khép lại tại đây. Mời các bạn đón đọc các kỳ tiếp theo vào tuần sau…

Thanh Phong

Xem thêm:

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: