Các phiên điều trần chính thức của Philippines tại Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) có trụ sở tại thành phố The Hague, Hà Lan, từ ngày 7 đến ngày 13/7, đã thu hút rất nhiều sự chú ý và quan tâm của dư luận quốc tế cũng như chính phủ các nước. Một ban gồm 5 thẩm phán sẽ lắng nghe các lập luận của Philippines trước khi đưa ra quyết định liệu Tòa PCA có quyền tài phán vụ kiện này hay không, cũng như phạm vi thẩm quyền của PCA đến đâu.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tổng hợp lại một số các thông tin quan trọng trong quá trình diễn ra các phiên điều trần của Philippines tại PCA từ nhiều nguồn tham khảo với mục đích giúp độc giả có cái nhìn chi tiết hơn về các vấn đề mấu chốt trong lập luận của Philippines đối với vụ kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở biển Đông.

Phiên điều trần thứ nhất

Trong bài phát biểu tại phiên điều trần đầu tiên, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario nhấn mạnh rằng Philippines không yêu cầu Tòa ra phán quyết về phương diện chủ quyền lãnh thổ trong tranh chấp giữa nước này và Trung Quốc tại biển Đông, mà chỉ muốn Tòa làm rõ những quyền lợi hàng hải của Philippines ở biển Đông.

Ông del Rosario nói, “Chúng tôi có mặt ở đây vì muốn làm rõ những quyền lợi hàng hải của chúng tôi ở biển Đông. Đây là vấn đề mà tòa án có quyền phán quyết.” Cụ thể, ông kêu gọi PCA đưa ra quyết định về:

  • Các quyền hàng hải của Trung Quốc và của Philippines được hưởng tại khu vực nào và có giới hạn đến đâu;
  • Tại khu vực nào thì quyền lợi của các bên chồng chéo lẫn nhau, và chồng chéo đến mức độ nào. Khu vực nào thì quyền lợi không bị chồng chéo?
  • Philippines không đòi hỏi Tòa phải đưa ra bất kỳ xác nhận nào về chủ quyền lãnh thổ trên đất liền hoặc phân định về biên giới trên biển.

Theo trang tin tankler.com, Ngoại trưởng Albert del Rosario cho biết, trong gần hai thập kỷ qua, mọi nỗ lực của Philippines nhằm kêu gọi Trung Quốc tham gia vào các cuộc đàm phán song phương đều thất bại. Vì thế, Philippines buộc phải viện đến sự can thiệp pháp lý. Ông nói,

“Trung Quốc đã luôn sử dụng sức mạnh áp đảo của mình để theo đuổi các hoạt động tại các vùng biển tranh chấp. Vì thế, Philippines chỉ có thể phản đối bằng cách dựa vào luật pháp quốc tế.”

Ngoại trưởng del Rosario nhấn mạnh rằng đây không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với Philippines, mà còn là đối với tất cả các quốc gia có vùng ven biển giáp với biển Đông, thậm chí đối với tất cả các quốc gia tham gia ký kết Công ước Liên Hợp Quốc về luật Biển (UNCLOS).

Theo lời ông del Rosario, Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS thông qua việc xâm phạm quyền chủ quyền biển và quyền tài phán của Philippines, đồng thời ngăn cản Philippines khai thác các nguồn tài nguyên nằm trong khu vực 200 hải lý vùng bờ biển.

Ông del Rosario cáo buộc rằng Trung Quốc đã dùng vũ lực để khẳng định chủ quyền của nước này trên biển Đông, bằng việc khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực nằm ngoài giới hạn chủ quyền đã được quy định trong UNCLOS, trong khi lại ngăn chặn các quốc gia ven biển khác, trong đó có Philippines, khai thác tại khu vực nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ.

Trong bài phát biểu của mình, Ngoại trưởng del Rosario cho rằng UNCLOS, được ký kết bởi 162 quốc gia thành viên, là một “yếu tố cân bằng” giữa các nước, giúp các nước nhỏ có quyền bình đẳng với các nước lớn dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Ông đưa ra lập luận rằng, “Nếu Trung Quốc có thể thách thức các giới hạn được đặt ra trong Công ước đối với các quyền hàng hải của họ tại biển Đông, và không quan tâm đến các quyền hàng hải của Philippines trong Công ước, vậy thì đâu là giá trị của Công ước đối với các nước nhỏ trong tương quan với các nước láng giềng lớn hơn, mạnh hơn và có vũ trang tốt hơn?

Điểm mấu chốt trong bài phát biểu của ông del Rosario là năm luận điểm cơ sở của Philippines trong vụ kiện này:

Luận điểm 1 – “Chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc: Trung Quốc không có quyền tuyên bố và áp đặt cái mà quốc gia này gọi là “chủ quyền lịch sử” đối với các vùng nội thủy, lãnh hải và thềm lục địa vượt khỏi giới hạn chủ quyền của mình theo Công ước;

Luận điểm 2 – “Đường chín đoạn” của Trung Quốc: Đường chín đoạn (của Trung Quốc) không dựa trên bất cứ cơ sở nào chiểu theo luật pháp quốc tế vì nó ngầm xác định giới hạn của tuyên bố về “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc. 

Phân tích luận điểm 1 và 2:

Lý do Trung Quốc cho rằng mình có “chủ quyền lịch sử” đối với các khu vực tranh chấp trên biển Đông là vì nước này cho rằng biển Đông thuộc quyền sở hữu của họ từ hàng trăm năm nay.

Cơ sở để Trung Quốc tuyên bố “chủ quyền lịch sử” trên biển Đông là dựa vào yêu sách “đường lưỡi bò” (hay còn gọi là “đường chín đoạn”), được nước này công bố chính thức với thế giới bằng một công hàm đệ trình lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vào ngày 7/5/2009.

Đường chín đoạn này bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông là: quần đảo Hoàng Sa (Paracels), quần đảo Trường Sa (Spratlys) và quần đảo Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa), bãi ngầm Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa) và bãi cạn Scaborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham) với khoảng 75% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ còn lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam.

Nội dung trong công hàm này có đoạn, “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển liền kề và được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và tầng đất dưới đáy của vùng biển đó.

Tuy nhiên, yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc chưa bao giờ được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Theo phân tích của nhiều học giả và chuyên gia quốc tế thì “không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó”, vì sao?

  • Tiến sĩ Marco Benatar, Trung tâm Luật Quốc tế, Đại học Brussel, Bỉ, nhận xét rằng, “Tiêu chí để xét ý định rõ ràng về phía Trung Quốc không được đáp ứng đầy đủ. Các cách giải thích khác nhau về “đường lưỡi bò” do các học giả Trung Quốc đưa ra cũng như Công hàm mập mờ của Trung Quốc ngày 7/5/2009 là minh chứng cho kết luận này. Bên cạnh cấu trúc câu phức tạp, các thuật ngữ được sử dụng trong Công hàm như “các vùng biển liên quan” hay “các vùng biển lân cận”, gây khó hiểu. Các thuật ngữ này không hề có trong Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982.
  • Theo Giáo sư Marvin Ott thuộc trường Đại học Johns Hopkins, vì thiếu các chú thích cùng cách diễn đạt khó hiểu, xa rời các tiêu chuẩn bản đồ quốc tế trong Công hàm của Trung Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, nên ý định của “đường lưỡi bò” là không rõ ràng, chưa thể hình thành một yêu sách lãnh thổ. Giáo sư Ott cho biết, “Trung Quốc sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền nhưng không thể bảo vệ được nó trước các quy định của luật pháp quốc tế. Phía Trung Quốc nhận ra điều này hơn ai hết! Tuy nhiên, họ không muốn lùi bước. Trong bối cảnh như vậy, điều mà Trung Quốc phải làm là khuấy động mọi thứ, làm cho nó thật rắc rối. Trung Quốc không thể giải thích rõ ràng về đường chín đoạn hay bất cứ một tọa độ nào khác, ngoài việc cứ nói chung chung rằng, tất cả khu vực biển Đông là của Trung Quốc. Nếu Trung quốc cung cấp những chi tiết cụ thể, lúc đó họ sẽ bị chỉ trích vì họ không cung cấp được những bằng chứng hợp pháp để có thể bảo vệ cái họ tuyên bố chủ quyền.
  • Giáo sư Erik Franckx, Trưởng Khoa Luật Quốc tế và châu Âu, Đại học Brussel, Bỉ, nói rằng, “Các bản đồ thể hiện đường chín đoạn vẽ một bức tranh khác về biển Đông so với các bản đồ cũng như các tài liệu khác của các quốc gia ven biển trong khu vực. Hơn nữa, các bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” không nhất quán. “Đường lưỡi bò” trên bản vẽ của Trung Quốc trước năm 1953 bao gồm 11 nét đứt, trong khi những phiên bản sau đó chỉ bao gồm 9 nét. Không có lý do chính thức nào được đưa ra để giải thích cho việc xoá đi 2 nét đứt này. Khi các bản đồ không thống nhất, mâu thuẫn với nhau thì các tài liệu đó không đáng tin cậy.

Ngoài ra, yêu cầu về tính chính xác về mặt kỹ thuật đối với các bản đồ cũng được đề cập trong án lệ. Năm 1928, trọng tài Max Huber, một luật gia người Thụy Sĩ, đã viết: “Điều kiện đầu tiên mà các bản đồ cần phải đáp ứng để có thể làm bằng chứng cho các lập luận pháp lý đó là tính chính xác về mặt địa lý,” khi ông đại diện PCA để đưa ra phán quyết trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hà Lan và Mỹ.

Theo BBC, trong một án lệ khác, vụ phán xử đền Preah Vihear, do Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đưa ra phán quyết vào năm 1962, cho thấy đường biên giới phải là “đường ổn định và dứt khoát”, trong một xã hội có trật tự riêng.

Trong khi đó, bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc không đáp ứng được yêu cầu này. Đường lưỡi bò này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ chính xác. Năm 1948, chính quyền Cộng hòa Trung Hoa lần đầu tiên in bản đồ có đường lưỡi bò, là một đường đứt khúc gồm 11 đoạn. Đến năm 1953, bản đồ có “đường lưỡi bò” do Bắc Kinh xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Tính chất không liên tục của con đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích là để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Điều này hoàn toàn trái ngược với đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt khoát. Hơn nữa, vị trí của đường lưỡi bò lại không được xác định tọa độ rõ ràng, do đó không thể biểu thị là một đường biên giới.

Vì sao toàn bộ các vùng nước bên trong đường lưỡi bò không thể được xem là các vùng nước lịch sử của Trung Quốc?

Xét về tính chất pháp lý, Trung Quốc đưa ra yêu sách đối với vùng biển bên trong đường lưỡi bò như là “vùng nước lịch sử” của họ.

Theo quy định của luật quốc tế, có thể có các quy chế đối với vùng nước được coi là “vùng nước lịch sử” bao gồm: nội thủy; lãnh hải; vùng nước quần đảo. Nghiên cứu của Ths.NCS.LS. Đỗ Minh Ánh đã chỉ ra rằng:

“Nội thủy”: Điều 8 của UNCLOS quy định nội thủy là vùng nước nằm ở phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, , tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền. Vùng nước nội thủy bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy.

“Lãnh hải”: Theo điều 3 và 4 của UNCLOS, lãnh hải là vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải của nước ven biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chạy song song với đường cơ sở và cách đều đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.

Quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài được quyền “qua lại không gây hại” mà không cần xin phép nước chủ. Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng “không gây hại”. Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc “qua lại không gây hại” này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh.

“Vùng nước quần đảo”: UNCLOS đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo trong phần IV, cũng như định nghĩa về việc các quốc gia này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ của mình như thế nào. Đường cơ sở được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng. Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó.

Các vùng biển theo luật biển quốc tế. (Nguồn: Wiki)
Các vùng biển theo luật biển quốc tế. (Nguồn: Wiki)

Theo chuyên gia luật Hoàng Việt, nghiên cứu về “Quy chế pháp lý của vùng nước lịch sử, bao gồm cả vịnh lịch sử”, được thực hiện bởi Ủy ban pháp luật quốc tế vào năm 1962, nêu rõ những tiêu chuẩn nào được áp dụng để xác định tính hợp pháp của một yêu sách chủ quyền lịch sử. Cụ thể, căn cứ theo tập quán quốc tế và các phán quyết của tòa án, một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử thì phải thỏa mãn ít nhất là hai điều kiện sau:

  • Quốc gia ven biển thực thi chủ quyền của mình đối với vùng được yêu sách;
  • Sự liên tục của việc thực thi quyền lực đó theo thời gian;
  • Quan điểm của các quốc gia khác với yêu sách đó.

Ngoài ra, một quốc gia yêu sách danh nghĩa lịch sử phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng đối với các vùng nước có vấn đề đang tranh cãi này.

Điều này có nghĩa là, để chứng minh vùng nước bên trong đường chín đoạn là vùng nước lịch sử của mình, Trung Quốc phải chứng minh được họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng nước trong đường lưỡi bò này một cách thật sự và liên tục trong một thời gian dài. Trong khi đó:

Ông Hoàng Việt đã dẫn chứng rằng, theo học giả Đài Loan Yann Huei Song, mặc dù “đường lưỡi bò” đã xuất hiện trên các bản đồ xuất bản ở Trung Hoa lục địa từ năm 1949, nhưng chưa bao giờ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc) yêu sách chính thức các vùng nước nằm trong đường này như các vùng nước lịch sử. Đại diện của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã không tuyên bố như vậy trong Hội nghị Công ước Luật biển lần III. Ông Hoàng Việt chỉ ra rằng, “Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Những hành vi bí mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử, ít nhất các quốc gia phải có cơ hội được biết những gì đang diễn ra.”

Xét về yếu tố thời gian, ông Hoàng Việt cho biết thời điểm mà Trung Quốc thực sự đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa là năm 1909. Tuy nhiên, khi này Hoàng Sa không còn là một lãnh thổ vô chủ. Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình từ ít nhất là năm 1816.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng đã cung cấp một kho tư liệu bản đồ, với hơn 1.000 bản đồ lớn nhỏ của các học giả khắp thế giới, chứng minh rằng chủ quyền biển đảo của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được xác lập từ thế kỷ 15.

Tại Hội nghị San Francisco diễn ra vào tháng 9/1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (Trích dẫn trong quyển sách “Sovereignty over Paracel and Spratly Islands” của tác giả Monique Chemillier). Ngoài ra, tranh chấp về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei cho thấy rằng “đường lưỡi bò” không hề được các quốc gia khác công nhận.

Xét về chế độ pháp lý của vùng biển nằm trong đường lưỡi bò:

Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nêu rõ: “Chiều rộng lãnh hải nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả.” (Trích dẫn trong quyển sách “The Spratly Islands Dispute:Who’s On First?” của tác giả Daniel J. Dzurek)

Chuyên gia luật Hoàng Việt phân tích rằng, điều 1 Tuyên bố năm 1958 của Trung Quốc xác định rõ rằng các đảo bị tách biệt bởi biển cả, chứ không phải “vùng nước lịch sử”. Trong khi đó, vùng biển cả lại không thể nằm trong nội thủy của Trung Quốc.

Trong Pháp lệnh về lãnh hải và vùng tiếp giáp của của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không xác định “vùng nước lịch sử”.

Mặt khác, Tuyên bố về đường cơ sở ngày 15/5/1996 của Trung Quốc chỉ áp dụng đối với quần đảo Hoàng Sa, nhưng lại không đề cập gì đến quần đảo Trường Sa, càng chứng minh cho sự mập mờ trong lập trường của nước này về “vùng nước lịch sử.”

Rõ ràng, xét về cả yếu tố thời gian, sự công nhận của các quốc gia khác, và cơ sở pháp lý thiếu tính thuyết phục của Trung Quốc cho thấy toàn bộ các vùng nước bên trong đường lưỡi bò không thể được xem là các vùng nước lịch sử của Trung Quốc.

Vì sao đường chín đoạn không có cơ sở pháp lý đối với UNCLOS? (mời xem tiếp trang 2)

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: