Trong bối cảnh Mỹ và Triều Tiên không ngừng đe dọa lẫn nhau, các cuộc thử nghiệm hạt nhân và tên lửa của Bình Nhưỡng vẫn tiếp diễn, trong khi Washington khẳng định “mọi lựa chọn” đều để trên bàn, ngày càng có nhiều quan ngại về khả năng chiến tranh thực sự với Triều Tiên.

Tuy nhiên, theo The Alantic, một số nhà phân tích thậm chí còn lo ngại một kịch bản đen tối hơn: Những sự kiện ở bán đảo Triều Tiên có thể kéo Mỹ và Trung Quốc vào một cuộc chiến tranh quyền lực lớn.

Bẫy Thucydides

Tin vui là không ai nắm trọng trách ở Mỹ hoặc Trung Quốc muốn có một cuộc xung đột quân sự. Mọi người đều biết rằng cuộc chiến giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ rất thảm khốc. Điều này dẫn đến nhiều nhà quan sát kết luận rằng một cuộc chiến tranh thật sự giữa Mỹ và Trung Quốc là điều không thể tưởng tượng được.

Nhưng khi nói một cái gì đó là “không thể tưởng tượng được”, chúng ta đang tự nhắc nhở mình về những gì có thể “tưởng tượng được” – chứ không phải về những gì thực tế có thể xảy ra trên thế giới. Vậy, để mở rộng trí tưởng tượng, chúng ta cần nhìn xa hơn vào lịch sử.

Trong khi lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên si, nhưng lặp lại ở mức độ tương tự thì có. Vì vậy, chúng ta nên đặt câu hỏi: Các sự kiện trong quá khứ nào giống với tình trạng khó khăn hiện nay do tiến trình hạt nhân của Triều Tiên, và chúng có thể giúp nhìn nhận về những gì chúng ta đang nhìn thấy – hoặc thậm chí là dự đoán những điều có thể xảy ra hay không?

Trong lịch sử, có nhiều câu chuyện về các bên thứ ba nhỏ hơn kéo các quyền lực lớn hơn vào chiến tranh. Nguy cơ này là đặc biệt cấp bách trong trường hợp một quốc gia đang nổi lên đe dọa sẽ thay thế quyền lực của nước “bá chủ” đương thời.

Thucydides, một nhà sử học Hy Lạp, đã quan sát thấy tiềm năng nguy hiểm này hơn 2.400 năm trước, khi mô tả các nguyên nhân của cuộc chiến giữa một Athens đang gia tăng quyền lực và một Sparta cầm quyền. Vào năm 431 trước Công nguyên, dưới sự lãnh đạo của Pericles, Athens đã trở thành một cường quốc hàng hải có đế chế mở rộng sang tận khu vực Đông Địa Trung Hải. Thách thức của nó đối với uy quyền tối cao của Sparta, quốc gia hùng mạnh ở bán đảo Peloponnesia.

Liệu Mỹ-Trung có thể rơi vào Bẫy Thucydides? (Ảnh: theatlantic)

Vấn đề này, gọi là “Bẫy Thucydides”, khiến các đối thủ cạnh tranh chính đặc biệt dễ tổn thương. Các hoạt động của các bên thứ ba có thể không được quan tâm hoặc kiểm soát đúng đắn, nên có thể gây ra các phản ứng dẫn đến nhũng cuộc chiến không ai mong muốn.

Ở Hy Lạp cổ đại, Corinth và Corcyra là những thủ phạm; năm 1914, một tên khủng bố người Serbia là thủ phạm kích hoạt chiến tranh khi ám sát một hoàng tử nước Áo; và ngày nay, có khả năng các hoạt động hạt nhân của Triều Tiên sẽ đóng vai trò này. Bẫy Thucydides không chỉ áp dụng cho sự thay đổi trong cân bằng quyền lực tổng thể, mà còn trong việc thay đổi một chiều hướng quyết định về sức mạnh quân sự.

Trong số các tiền lệ có thể làm sáng tỏ những rủi ro tương tự Bẫy Thucydides tạo ra trong cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên, chúng ta có thể xét 3 thí dụ nổi bật: Chiến tranh Triều Tiên 1950, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và tình thế tiến thoái lưỡng nan xảy ra khi kẻ thù tiến tới ngưỡng hạt nhân.

Bài học từ cuộc chiến Triều Tiên 1950

Trong cuộc thảo luận với một nhóm các sĩ quan quân đội Trung Quốc (PLA) ở Bắc Kinh hồi tháng 6, nhà báo Graham Allison đã hỏi liệu Kim Jong Un của Bắc Triều Tiên có thể kéo Trung Quốc và Mỹ vào chiến tranh hay không. Một đại tá PLA trẻ đẹp trả lời: “Hoàn toàn không!”. Sau đó, Allison lại hỏi liệu điều này đã từng xảy ra trước đây. Vị đại tá nọ lại nói rằng anh nghĩ là không, nhưng sau đó một số đồng nghiệp đã nhắc nhở anh ta về những gì xảy ra vào năm 1950.

Trong trường hợp đó, ông nội của Kim Jong Un là Kim Il Sung đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào Hàn Quốc. Lực lượng của ông tràn xuống bán đảo Triều Tiên đến mức họ sắp sửa thống nhất đất nước. Vào phút chót, Mỹ đã xuất hiện để giải cứu Hàn Quốc. Một sư đoàn Mỹ dưới sự chỉ huy của Tướng Douglas MacArthur đã đẩy quân đội Triều Tiên trở lại bán đảo.

Quân đội MacArthur vượt qua Vĩ tuyến 38 (là đường phân chia giữa Bắc và Nam Triều Tiên vào cuối thế chiến 2) và nhanh chóng tiến gần đến sông Yalu, biên giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc. Nhưng rồi, với sự kinh ngạc của MacArthur, Trung Quốc đã tấn công. Một đội quân nông dân đã đánh lùi quân đội Mỹ quay trở lại Vĩ tuyến 38, nơi Mỹ bị buộc phải đình chiến. Khi chiến tranh kết thúc, hơn 50.000 người Mỹ, hàng trăm ngàn người Trung Quốc, và hàng triệu người Triều Tiên đã thiệt mạng.

Sự việc diễn ra chưa đầy một năm sau khi Mao Trạch Đông giành chiến thắng trong cuộc nội chiến đẫm máu ở Trung Quốc. Vào thời điểm đó, GDP của Trung Quốc thấp hơn 1/50 của Mỹ và Mỹ là siêu cường hạt nhân duy nhất của thế giới, nước vừa mới thả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki 5 năm trước buộc Nhật phải đầu hàng trong thế chiến 2.

Ngày nay, nền kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Mỹ về quy mô, và Trung Quốc có vũ khí hạt nhân của riêng mình. Vì vậy, hầu hết giới quan sát đều tin rằng bằng mọi giá Trung Quốc sẽ không chấp nhận được một bán đảo Triều Tiên thống nhất là một đồng minh quân sự của Mỹ.

Trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis thừa nhận trước Ủy ban Dịch vụ Vũ khí Hạ viện vào tháng 6 rằng bất kỳ cuộc chiến nào ở Triều Tiên cũng sẽ “thảm khốc”, ông cũng tự tin tuyên bố vào tháng 8 rằng cuộc chiến tranh với CHDCND Triều Tiên sẽ đồng nghĩa với “sự chấm dứt của chế độ Bình Nhưỡng và sự hủy diệt người dân ở đó”. Nhưng Mattis đã không nói, và cũng không đại biểu Quốc hội nào chất vấn ông, đó là “Còn về Trung Quốc thì sao?”.

Lãnh đạo Mỹ-Trung điện đàm để tìm cách kiềm chế Triều Tiên. (Ảnh: Daily Star)

Mỹ nhìn thấy sự miễn cưỡng của Trung Quốc trong việc kìm hãm đồng minh phiền hà Triều Tiên, trong khi lại rất nỗ lực nhằm ngăn chặn Hàn Quốc trong việc triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa. Điều này được xem như một bằng chứng cho thấy Trung Quốc đang cố gắng sử dụng khủng hoảng để đẩy Mỹ ra khỏi khu vực lân cận của họ.

Đối với Trung Quốc, các hành động đối phó với Triều Tiên của Mỹ là một phần của bức tranh lớn hơn, trong đó Mỹ đang tìm cách ngăn chặn sự phát triển quyền lực của Trung Quốc. Những phần khác như: thuyết phục Hàn Quốc và Nhật Bản triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa – bao gồm cả hệ thống THAAD và Aegis – nhằm làm giảm nguy cơ đe dọa hạt nhân của Trung Quốc; và mở rộng hệ thống liên minh của Mỹ bao gồm cả các nước khác, thậm chí cả Ấn Độ, trong một chiến lược mà Mỹ gọi là “phòng ngừa” chống lại Trung Quốc…

Và không nên quên rằng các đồng minh Mỹ cũng có mối quan tâm sâu xa về lợi ích quốc gia trong cuộc khủng hoảng này. Điều này làm gia tăng theo phép nhân số lượng các bên thứ ba có thể kéo Mỹ và Trung Quốc vào chiến tranh, giống như Anh và Đức bị lôi kéo bởi các quốc gia nhỏ hơn trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.

Đối với Hàn Quốc, ưu tiên trong cuộc khủng hoảng này là tránh chiến tranh ở khu vực lân cận. Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In gần đây phát biểu: “Tôi có thể tự tin nói sẽ không có chiến tranh nữa trên bán đảo Triều Tiên”.

Trong khi đó, chương trình nghị sự của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trong việc giải quyết các diễn biến ở Triều Tiên tập trung vào 2 mục tiêu trọng yếu. Thứ nhất, ông phản đối bất kỳ hành động nào của Mỹ có thể gây ra một cuộc tấn công của Triều Tiên vào Nhật Bản, đặc biệt là bằng một tên lửa mang đầu đạn hạt nhân. Thứ hai, ông đang lợi dụng sự bất an của công dân Nhật Bản để thúc đẩy cam kết về sửa đổi hiến pháp hòa bình Mỹ áp đặt lên Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai và xây dựng lại một quân đội để tương xứng với vị thế của Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.

Với rất nhiều quan điểm đối nghịch trong cuộc phiêu lưu đa phương này, rủi ro có một hoặc nhiều bên hiểu nhầm những gì nước khác đang làm sẽ tăng theo cấp số nhân.

Thế chiến 1 cho thấy điều gì?

Thế chiến 1 đã đưa ra sự so sánh cổ điển. Làm thế nào việc ám sát Hoàng tử Áo Franz Ferdinand lại làm phát sinh xung đột lớn đến mức các sử gia phải tạo ra một thể loại hoàn toàn mới: Chiến tranh thế giới? Một thế kỷ sau sự kiện đó, các nhà sử học vẫn đang vật lộn với câu hỏi đó.

Hai cuốn sách trăm tuổi có vai trò tốt nhất trong cuộc tranh luận này là cuốn “The Sleepwalkers” của Chris Clark và “The War That Ended Peace” của Margaret MacMillan. Cả 2 cuốn sách đều lưu ý những động lực sâu sắc hơn thúc đẩy các sự kiện trong thập niên trước năm 1914, đặc biệt việc một nước Đức đang nổi lên thách thức sự bá chủ của nước Anh. Nhưng cả 2 cũng nhấn mạnh đến việc quyết định tùy hứng của các nhà lãnh – mà không nhìn thấy đầy đủ những hậu quả hành động của họ mang lại.

Khi kết thúc “Đại chiến”, điều gì đã xảy ra cho tất cả các nhân vật chính và mục tiêu chính của họ? Tất cả đã mất đi điều họ quan tâm nhất: hoàng đế Austro-Hunger bị lật đổ và đế quốc của ông tan rã; vị hoàng đế Nga, người đã cố gắng ủng hộ những người Slavs ở Serbia, bị lật đổ bởi những người Bolshevik; vị vua người Đức, người đã ủng hộ đồng minh duy nhất của ông ở Vienna, đã bị tước quyền; Pháp đổ máu cho cả thế hệ không bao giờ phục hồi trở lại như là một thế lực to lớn; nước Anh từng là chủ nợ thế giới trở thành một con nợ và bước vào con đường suy thoái chậm chạp.

Giả sự họ được trao cơ hội để quyết định lại, ắt hẳn không có nhà lãnh đạo nào của các thế lực lớn trong năm 1914 lại có những lựa chọn mà họ đã làm. Nhưng họ đã làm, và cuộc chiến giữa các cường quốc đã xảy ra.

Thế chiến 1 bùng phát sau một vụ ám sát (Ảnh: Wikipedia)

Những căng thẳng và sợ hãi tương tự khiến Anh và Đức đi vào con đường dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng xuất hiện khi một kẻ thù tiến đến một ngưỡng quyết định trong quyền lực quân sự. Kể từ khi vũ khí nguyên tử xuất hiện vào năm 1945, đã có 7 trường hợp trong đó một quốc gia đứng trên ngưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân có thể đặt ra một mối đe dọa hiện hữu thực sự đối với kẻ thù của nó. Trong mỗi trường hợp, đối thủ vũ trang hạt nhân của họ đều nghiêm túc xem xét một cuộc tấn công quân sự để ngăn chặn điều đó xảy ra.

Cuối năm 1949, sau khi Liên bang Xô viết thử nghiệm thiết bị nguyên tử đầu tiên của mình, Tư lệnh Không quân Mỹ đã yêu cầu Tổng thống Truman cho phép tấn công để giải giáp Moscow. Khi Trung Quốc tiến tới điểm xuất phát hạt nhân đầu những năm 1960, Liên bang Xô viết đã lên kế hoạch tấn công Bắc Kinh và thậm chí đã hỏi ý kiến ​​Mỹ về lựa chọn này. Khi Ấn Độ tiến gần ngưỡng này, Trung Quốc cũng đã xem xét các cuộc tấn công quân sự; và khi Pakistan thử nghiệm hạt nhân, Ấn Độ đã tấn công; và bây giờ, khi Triều Tiên tiếp tục phát triển vũ khí, Mỹ đang công khai khả năng lựa chọn giải pháp quân sự. Trong tất cả các trường hợp này, khi một chính phủ cân nhắc các hậu quả tiềm tàng của cuộc tấn công so với sống chung với một kẻ thù vũ trang hạt nhân, họ đã chọn cách thứ hai.

Chỉ có một nhà nước thực hiện kế hoạch quân sự để ngăn chặn một kẻ thù sở hữu vũ khí hạt nhân: Israel. Năm 1981, nó phá hủy một lò phản ứng hạt nhân của Iraq tại Osirak trước khi nó có thể sản xuất plutonium. Năm 2007, nó phá hủy một lò phản ứng hạt nhân Triều Tiên đã bán cho Syria, một trong số đó có thể bây giờ đã sản xuất đủ plutonium cho một số vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, trong cả 2 trường hợp này, kẻ thù của Israel vẫn chưa mua được vũ khí hạt nhân, và trong cả 2 trường hợp, nó chỉ có một mục tiêu để tiêu diệt. Ngược lại, giới chuyên gia tin Triều Tiên hiện đã có tới 60 vũ khí hạt nhân hiện nay, và theo lời của cựu Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Merrill McPeak, phá hủy tất cả các cơ sở hạt nhân bí mật của Triều Tiên ẩn có thể yêu cầu phải “tìm kiếm từng nhà một”.

Từ những trường hợp trên, chúng ta có thể rút ra bài học tối ưu nào để đối phó với cuộc khủng hoảng Triều Tiên ngày nay? Là một nhà thực hành hiện đại có ảnh hưởng nhất trong lịch sử ứng dụng, Henry Kissinger đã cảnh báo, “Lịch sử không phải là một cuốn sách nấu ăn cung cấp các công thức đã được kiểm chứng”. Thay vào đó, nó có thể “làm sáng tỏ những hậu quả của hành động trong các tình huống có thể so sánh được”, và “mỗi thế hệ phải tự khám phá ra những tình huống nào trên thực tế có thể so sánh được”.

Ưu Đàm

Xem thêm:

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: