Một nghiên cứu được công bố trên The Lancet Psychiatry đã phát hiện rằng có 45.000 người, chiếm 20% tổng số tất cả các vụ tự tử trên thế giới mỗi năm là có liên quan đến tình trạng thất nghiệp. Kết quả nghiên cứu dựa trên việc xem xét số lượng các vụ tự sát tại 63 quốc gia trên 4 khu vực của thế giới trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2011.

“Tình trạng thất nghiệp gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của các cá nhân và, không có gì ngạc nhiên khi các nghiên cứu đã đề xuất mối liên hệ giữa tình trạng thất nghiệp và tự sát”, các nhà nghiên cứu viết trong phần giới thiệu tóm tắt của nghiên cứu trên.

“Để kiểm tra mức độ ổn định của các kết quả, chúng tôi đã thực hiện một mô hình hệ số ngẫu nhiên tổng thể bao gồm tất cả các quốc gia được nghiên cứu và bốn mô hình bổ sung, mỗi mô hình này được áp dụng cho một khu vực thế giới khác nhau”, các tác giả bổ sung.

Các nhà nghiên cứu cùng các chuyên gia từ Đại học Zurich ở Nam Phi đã tranh luận rằng các kết quả nghiên cứu của họ đề xuất rằng các chiến lược ngăn chặn hành vi tự sát cần nhắm vào những đối tượng bị mất việc làm – ngay cả ở các quốc gia không bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế.

Điều đáng lưu ý đối với nghiên cứu này là mối tương quan không tương đương với nguyên nhân. Các nhà nghiên cứu chỉ đơn thuần quan sát mối liên hệ giữa tình trạng thất nghiệp và hành vi tự sát.

“Tự sát liên quan đến tình trạng thất nghiệp có số lượng người tử vong nhiều gấp 9 lần các vụ tự sát khác do cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây nhất. Các chiến lược ngăn chặn tập trung vào tình trạng thất nghiệp và có việc làm cùng các điều kiện đi kèm là cần thiết không chỉ trong các giai đoạn khó khăn mà còn trong các thời điểm kinh tế ổn định”, bản tóm tắt viết.

Cả đàn ông và phụ nữ ở tất cả các độ tuổi đều dễ tổn thương như nhau trong các hành vi tự sát liên quan đến tình trạng thất nghiệp, theo bản giới thiệu tóm tắt.

Theo Dịch vụ Sức khỏe Quốc gia ở Anh (NHS), “Phân tích tại cấp độ khu vực thế giới không có khả năng xem xét các yếu tố lâm sàng và tâm lý liên quan đến hành vi tự sát và việc nghiên cứu sâu hơn đối với các cá nhân có nguy cơ tự sát tại các thời điểm có tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ là có ích. Thêm vào đó, những thông tin còn thiếu từ các quốc gia lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và hầu hết các nước Châu Phi, có thể gây ảnh hưởng đến mức độ tin cậy cho các ước tính của họ”.

Tuy nhiên người dẫn đầu nghiên cứu, tiến sỹ Carlos Nordt, nói rằng điều này không chỉ là tình trạng mất việc làm của một người mà còn là sự không chắc chắn trong những tháng sau đó.

“Có thể là mức tăng không ngờ tới của tỷ lệ thất nghiệp đã gây ra những nỗi sợ hãi và bất an lớn hơn ở những quốc gia vốn có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn trước khủng hoảng”, ông Nord nói với tờ Guardian.

Ông bổ sung thêm: “Các kết quả của chúng tôi tiết lộ rằng tỷ lệ tự sát tăng trong 6 tháng trước khi tỷ lệ thất nghiệp tăng. Hơn thế nữa, các dữ liệu của chúng tôi gợi ý rằng không phải tất cả các trường hợp mất việc đều gây ra những ảnh hưởng tương đương, bởi sự ảnh hưởng đến nguy cơ tự sát có vẻ mạnh hơn ở các quốc gia nơi mà thất nghiệp là điều không phổ biến”.

Mỗi chính phủ cũng có thể giúp làm giảm nguy cơ tự sát bằng cách chú trọng hơn nữa vào việc thiết lập “các chính sách thị trường lao động hiện hành nhằm thúc đẩy thị trường này hoạt động hiệu quả, nhờ đó giúp tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp”.

Nhìn chung, trung bình có khoảng 233.000 vụ tự tử mỗi năm.

Jack Phillips, Epoch Times

Anh Vũ (biên dịch) – Tâm Minh, Phan A (biên tập)

Xem thêm: 11 bệnh nhân ung thư đã tự tử ở Moscow

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: