Tóm tắt bài viết

  • Các hiệp định đầu tư song phương tạo nên sự bất bình đẳng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.
  • Lợi ích thu hút FDI từ các hiệp định đầu tư song phương của các nước đang phát triển không bù đắp nổi cho tổn thất từ các vụ kiện tụng.
  • Tác giả nhận định cần xây dựng một khuôn khổ chính sách đầu tư nước ngoài kiểu mới, trong đó phải bao hàm các lợi ích xã hội và phát triển của các nước tiếp nhận đầu tư.

Các hiệp định đầu tư song phương đã trở thành nguồn tranh cãi chính trị trong những năm gần đây. Điều này thể hiện rõ khi nhìn vào số lượng các cuộc tranh chấp giữa các nhà đầu tư và các chính phủ đang gia tăng một cách đáng báo động.

Các hiệp định đầu tư đã tạo nên sự phân bổ bất bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các nước phát triển (cội nguồn của hầu hết khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài) và các nước đang phát triển (phần lớn là các nước nhận đầu tư). Các hiệp định cũng dẫn tới nguy cơ kiện tụng gia tăng và có tác động tiêu cực đến lợi ích đầu tư ròng đối với các nước tiếp nhận đầu tư.

Các nhà đầu tư đã khởi nhiều vụ kiện chống lại các nước có hiệp định đầu tư song phương. Hơn nữa, lợi ích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các hiệp định này không bù đắp nổi cho tổn thất từ các vụ kiện tụng nhắm vào các nước tiếp nhận vốn.

Đây là lý do tại sao ngày càng có nhiều quan điểm cho rằng mô hình hiệp định đầu tư song phương kiểu truyền thống cần phải được xem xét lại. Việc xem xét lại cần phải tập trung vào xây dựng một khung chính sách đầu tư nước ngoài kiểu mới. Điều này, cùng với việc xúc tiến đầu tư nước ngoài, cũng cho phép các nước tiếp nhận vốn có thể điều tiết hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho phù hợp với các chính sách công của họ.

Các hiệp định được thiết kế ra để làm gì?

Các hiệp định đầu tư song phương tạo cơ sở cho hoạt động phân xử các cuộc tranh chấp giữa các nhà đầu tư và các chính phủ. Hoạt động phân xử có thể diễn ra ở cơ quan giải quyết tranh chấp của Ngân hàng Thế giới, Phòng Thương mại Stockholm hoặc Phòng Thương mại Quốc tế tại Paris.

Ngoài ra, còn có một tòa án sự vụ được thành lập dưới sự điều hành của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế. Cơ quan giải quyết tranh chấp của Ngân hàng Thế giới đảm nhận 62% tổng số các vụ kiện, Liên Hợp Quốc chiếm 28%, Phòng Thương mại Stockholm chiếm 5%, còn các tổ chức khác chiếm 5% trong đó gồm cả Phòng Thương mại Quốc tế tại Paris.

Các vụ kiện tụng lên tòa án của Liên Hợp Quốc hiện đều phải công khai trước công chúng. Ở các nơi khác thì không như vậy. Các bên liên quan tới xung đột cho tới gần đây vẫn có thể xin tòa án của Liên Hợp Quốc áp dụng quy tắc giữ bí mật. Tuy nhiên, điều này đã bị thay đổi.

Hầu hết các các vụ kiện tụng do cơ quan giải quyết tranh chấp của Ngân hàng Thế giới xử lý thường là các vụ kiện các quốc gia có hiệp định đầu tư.

Số lượng các hiệp định đầu tư song phương đã tăng từ khoảng 500 hiệp định vào năm 1980 lên đến 2.923 hiệp định vào năm 2014. Điều này là do các nước đang phát triển cạnh tranh để thu hút FDI với niềm tin rằng các khoản đầu tư này sẽ thúc đẩy nền kinh tế của họ tăng trưởng. Các hiệp định đầu tư giúp cho các nước tiếp nhận vốn đầu tư thu hẹp khoảng cách giữa lượng tiết kiệm nội địa và quy mô vốn mà nước này cần cho đầu tư. FDI cũng mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển đón nhận các công nghệ mới nhất và cho phép các nước này gắn nền kinh tế của họ vào mạng lưới xuất khẩu toàn cầu.

Các vụ kiện tụng lên cơ quan giải quyết tranh chấp của Liên Hợp Quốc đã tăng từ 5 trong số 12 vụ vào năm 2000, lên đến 12 trong số 14 vụ vào năm 2001, và tới mức 15 trong số 19 vụ vào năm 2002. Vào tháng 4/2003, có 38 vụ kiện chờ giải quyết tại Ngân hàng Thế giới với những cáo buộc về việc vi phạm các hiệp định đầu tư song phương. Số vụ kiện tăng gấp 10 lần chỉ trong vòng hơn 10 năm, lên đến 436 vụ tính đến tháng 12/2014. Điều này cho thấy rõ số lượng các vụ kiện mà Ngân hàng thế giới phải xử lý đã gia tăng kể từ khi các hiệp ước đầu tư song phương tăng lên đột biến.

Tại sao các nước lại nghĩ rằng các hiệp định là tốt?

Khi không có khuôn khổ hiệp định đa phương, các nước đang phát triển cho rằng hiệp định đầu tư song phương là một cách để báo hiệu rằng đất nước họ là địa điểm đầu tư an toàn.

Cho đến nay, các nghiên cứu định lượng đã tập trung phân tích tác động của các hiệp định đối với việc xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các kết luận vẫn chưa được thống nhất. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các hiệp định chỉ làm ảnh hưởng đến hướng đi của dòng vốn đầu tư, chứ không ảnh hưởng đến số lượng. Điều này cho thấy rằng các công ty đa quốc gia hướng dòng vốn đầu tư của họ vào các quốc gia như Hà Lan, nơi mà các điều khoản trong hiệp định là có lợi cho các nhà đầu tư.

Do đó không có gì ngạc nhiên khi vào những năm gần đây, các hiệp định đầu tư song phương đã trở thành nguồn tranh cãi chính trị. Ít nhất 45 quốc gia và 4 tổ chức hội nhập khu vực đang xem xét lại hoặc mới đây đã sửa đổi lại các hiệp định của họ. Mục tiêu của việc này là để bổ sung các quy định về các cam kết trước thành lập (bảo đảm nguyên tắc Đãi ngộ Quốc gia và Tối Huệ Quốc trong đầu tư) và các điều khoản hướng đến phát triển bền vững.

Nam Phi đã chấm dứt các hiệp định của nước này với Hà Lan, Thụy Sĩ và Đức vào năm 2014. Kể từ đó, quốc gia này cũng đưa ra thông báo sẽ chấm dứt các hiệp định với Bỉ, Luxembourg, Tây Ban Nha và Indonesia. Nam Phi đang dần thay thế các hiệp định này bằng việc xúc tiến và bảo vệ Luật đầu tư.

Rủi ro không đáng có cho nước chủ nhà

Sau sự bùng nổ về số lượng các hiệp định trong những năm 1990, thì số lượng các hiệp định mới đã bắt đầu giảm. Đây là kết quả của việc nhận ra rằng các hiệp định kiểu truyền thống đặt ra rủi ro không đáng có cho các quốc gia chủ nhà nhưng lại không ràng buộc các nhà đầu tư phải đóng góp cho các yêu cầu phát triển.

Số lượng các sự vụ kiện được giải quyết thông qua phân xử đã tăng đáng kể từ 50 trường hợp vào năm 2000 đến 608 trường hợp vào năm 2014. Tính nghiêm trọng của vấn đề này thể hiện rõ qua số lượng lớn các đơn khiếu nại của các nhà đầu tư, điều này khiến các nước chủ nhà ở trong tình trạng căng thẳng tài khóa nghiêm trọng.

Hoài nghi về tính hợp pháp

Trong các vụ phân xử, tài liệu phân tích về tác động của các hiệp định song phương chủ yếu là định tính, giải quyết các sự vụ lặt vặt hoặc phân tích khía cạnh pháp lý của các hiệp định. Những nghiên cứu này đã nêu bật sự không nhất quán và những phân xử trái ngược của các tòa án. Điều này dẫn đến hoài nghi về tính hợp pháp của các quyết định của tòa án.

Các nghiên cứu khác đã chỉ ra các yếu tố khác góp phần vào những thiếu sót trong hệ thống này. Các yếu tố bao gồm sự thiếu minh bạch, chi phí tốn kém và những lo ngại về phẩm chất của người phân xử tranh chấp.

Đại đa số các tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ khởi phát từ các nhà đầu tư của các nước phát triển (phía Bắc bán cầu) đối với các nước đang phát triển (phía Nam bán cầu). Điều này bất chấp thực tế là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Bắc sang Bắc bán cầu chiếm thị phần đầu tư toàn cầu lớn hơn so hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Bắc sang Nam bán cầu.

Điểm bất bình thường trên có thể được lý giải từ quy trình tư pháp yếu kém và các đặc điểm riêng biệt khác của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, để xác định liệu điều này [tranh chấp giữa các nhà đầu tư và các chính phủ] có phải chỉ là do các hiệp định song phương gây ra hay không, thì chúng ta cần phải kiểm soát các yếu tố khác có thể tác động vào.

Nghiên cứu của chúng tôi

Sau khi phân tích về các vụ tranh chấp đầu tư được xử lý bởi cơ quan giải quyết tranh chấp của Ngân hàng Thế giới, chún tôi thấy rằng hầu hết các vụ việc là do các nhà đầu tư chống lại các nước có hiệp định. Hơn nữa, lợi ích ròng của các nước có hiệp định thấp hơn đáng kể so với các nước không có hiệp định.

Phân tích của chúng tôi khẳng định các quốc gia đang phát triển cần phải cảnh giác với các rủi ro đi kèm với các hiệp định kiểu truyền thống, mà mối quan tâm duy nhất của những hiệp định này là bảo vệ các nhà đầu tư.

Những phát hiện của chúng tôi đã xác nhận tính đúng đắn của các nước đang phát triển khi kêu gọi xây dựng một khuôn khổ chính sách đầu tư nước ngoài kiểu mới. Điều này sẽ thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài và cũng cho phép các nước đang phát triển có thể điều tiết hoạt động đầu tư cho phù hợp với các ưu tiên chính sách công trong nước. Các lợi ích xã hội và phát triển của các nước đang phát triển phải được bao hàm trong các cuộc đàm phán hiệp định.

Khung chính sách đầu tư phát triển bền vững của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) là một bước tiến. Một thế hệ hiệp định đầu tư mới phải cân bằng giữa chính sách đầu tư và chiến lược phát triển của các nước chủ nhà trong khi đảm bảo được hành vi có trách nhiệm của nhà đầu tư.

Tác giả: Uma Kollamparambil – Giảng viên Kinh tế học, Đại học Witwatersrand (Nam Phi)
Bài được đăng trên trang theconversation.com
Ánh Sao biên dịch

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: