Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ đã thống trị nền kinh tế toàn cầu. Ban đầu, sau chiến tranh, Hoa Kỳ là nước duy nhất có nền kinh tế lớn mạnh, trong khi các nước thua trận (Đức, Nhật Bản, Italia) hoàn toàn chìm trong đổ nát hoặc bị thiệt hại nặng nề sau chiến tranh như Anh, Nga.

Các công ty sản xuất lớn của Mỹ đã không bị ảnh hưởng; họ đã sản xuất một lượng lớn vật dụng chiến tranh (máy bay, xe cộ, điện tử); các cơ sở này sau đó đã nhanh chóng chuyển sang sản xuất hàng tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu bị dồn nén bấy lâu nay của Mỹ (và thế giới). Đồng thời, những đổi mới khoa học và kỹ thuật được áp dụng trong kinh tế và văn hóa đã tạo ra một cơn lốc dường như vô tận của các sản phẩm đạt chuẩn: truyền hình thương mại, máy bay chở khách, máy tính, đèn điện tử chân không, iPhones với khả năng tính toán ưu việt, và cách mạng nông nghiệp xanh. Có lẽ đỉnh cao của sự thống trị này là sự kiện đưa người lên mặt trăng vào năm 1969, sau chuyến bay một mình vượt Đại Tây Dương của Lindberg vào năm 1927.

Nhưng dần dần tính ưu việt này đã bị suy giảm. Các nước khác cũng đã phát triển các sức mạnh công nghệ tương tự (ngày càng nhiều các công ty Mỹ xây dựng các nhà máy ở những nước này để tận dụng chi phí nhân công rẻ hơn). Và Hoa Kỳ đã chuyển từ công xưởng của thế giới thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới – mà đa phần hàng hóa được sản xuất bên ngoài nước Mỹ.

Từ người cho vay lớn nhất thế giới, chúng tôi đã trở thành con nợ lớn nhất thế giới.

Chúng tôi đã phát triển các kỹ năng chưa từng có trong các nghiệp vụ tài chính, làm cho phố Wall trở thành ngôi nhà của các công cụ tài chính. Ví dụ, “phái sinh”, là công cụ mà chỉ một MBA mới có thể hiểu được.

Và “chu kỳ tăng trưởng là quay vòng” trên toàn cầu – tăng trưởng ở nước này nhưng lại là suy thoái ở nước khác – nhưng có những bước tiến đáng kể trong xóa đói giảm nghèo trên toàn cầu và cải thiện cấu trúc kinh tế/xã hội.

Tiếp sau đó là sự sụp đổ của thị trường cho vay thế chấp Mỹ vào năm 2008 và sự thất bại đồng thời của nhiều ngân hàng “quá lớn không thể sụp đổ.” Nếu không buộc phải phá sản, thì việc phục hồi các ngân hàng đã bị thiệt hạị nặng nề là một quá trình rất lâu dài.

Đồng thời, thị trường chứng khoán cũng sụt giảm đến chóng mặt, và các nhà đầu tư tư nhân cũng đã nhìn thấy giá trị của các danh mục đầu tư bị xóa sạch. Như vậy câu châm biếm “401K của tôi bây giờ là 201K” đã cộng hưởng với tỷ lệ thất nghiệp Mỹ tăng lên mức hai con số. Nhiều quý tăng trưởng âm liên tiếp đủ cho thấy một sự sụp đổ hay một cuộc suy thoái, và chiều sâu cùng độ che phủ của nó đã khiến nó được gọi là Đại suy thoái.

Không có gì ngạc nhiên, cuộc Đại suy thoái đã thống trị kinh tế nước Mỹ và toàn cầu trong 7 năm qua, đóng vai trò then chốt trong các cuộc bầu cử liên bang Mỹ năm 2008, 2010, 2012, và 2014.

Về cơ bản, có hai trường phái tư tưởng cho Hoa Kỳ (và thế giới) theo dõi: Chi tiêu theo cách của bạn để thoát ra khỏi suy thoái và hạn chế chi tiêu trong khoản thu nhập có sẵn. Những người tự do/đảng Dân chủ muốn chi từ chăm sóc y tế cho đến cơ sở hạ tầng. Những người bảo thủ/đảng Cộng hòa muốn giảm tất cả mọi thứ từ thuế cho đến chi tiêu liên bang trên mọi lĩnh vực.

Các khoản nợ của Mỹ là vượt quá sự hiểu biết của người dân thông thường.

Nhưng kết quả là chưa giải quyết được. Tăng trưởng kinh tế còn xa mới đạt được tỷ lệ mong muốn 3% hàng năm. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm, nhưng nhiều người đang làm việc tại các vị trí không như mong muốn và/hoặc với mức lương thấp. Chỉ có ¼ dân số Mỹ cho rằng đất nước mình đang đi đúng hướng.

Đa số người dân nghĩ rằng giai đoạn phát triển nhất đã lùi vào quá khứ. Họ lưu ý sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa ‘1%‘ và ‘phần còn lại’. “Khi đang trong giai đoạn tăng trưởng, thì hầu như không có sự chênh lệch, còn khi suy thoái, sự ghen tị và ác ý sẽ nổi lên.

Cắt giảm thuế (sẽ khiến những người giàu càng giàu hơn) nhưng không được giảm chi tiêu cho hệ thống phúc lợi xã hội, mà khoản này chiếm phần lớn trong các khoản nợ quốc gia.

Và các dự án hạ tầng nhắc đến những hoài nghi về các dự án lớn như “đường hầm lớn” (big dig) ở Boston, ban đầu được dự trù kinh phí là 2,8 tỷ USD, nhưng mức chi cuối cùng ước tính là 22 tỷ USD sau hơn 16 năm xây dựng. Ai đã tham nhũng?

Ở đâu đó trong những năm này, quyền lực (mojo) của Mỹ “có thể khiến” người ta lạc quan hoặc có thể đã biến mất. Chúng tôi đang rút lui khỏi toàn cầu; rõ ràng không muốn hy sinh thêm xương máu và tiền tài nữa. Và đây là một kỷ nguyên đã được biết tới từ lâu, nơi mà không có ánh sáng cuối “đường hầm”.

Không thể có câu trả lời hợp lý cho vấn đề này.

David T. Jones. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)
David T. Jones. (Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)

David T. Jones là một quan chức cấp cao đã nghỉ hưu của bộ phận sự nghiệp dịch vụ đối ngoại thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Ông đã xuất bản vài trăm cuốn sách, bài báo, bài viết và bài bình luận về các vấn đề đối ngoại song phương Mỹ-Canada và chính sách ngoại giao nói chung. Trong suốt sự nghiệp hơn 30 năm của mình, ông đã tập trung vào các vấn đề chính trị-quân sự với vai trò cố vấn cho hai Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ. Gần đây ông  đã xuất bản cuốn sách “Một Bắc Mỹ khác: Canada và Mỹ học hỏi được gì từ nhau” (Alternative North Americas: What Canada and the United States Can Learn from Each Other).

Quan điểm thể hiện trong bài viết này là những ý kiến cá nhân ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại Kỷ Nguyên.

Theo David T. Jones, Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
Tâm Minh biên dịch

Xem thêm:

Bài Liên Quan

Quảng Cáo:

loading...

Clip hay: